Quy Trình Chọn Giống Và Chăn Nuôi Gà Mía Sinh Sản

I. PHẠM VI ÁP DỤNG

Quy trình này được áp dụng cho các cơ sở trang trại và gia trại

II. QUY TRÌNH CHỌN GIỐNG CÁC GIAI ĐOẠN

2.1. Chọn giống giai đoạn gà con 01 ngày tuổi

2.1.1. Cân xác định khối lượng trung bình

– Cân mẫu 50 con và cân riêng từng con, sau đó tính khối lượng trung bình của 1 con

– Chọn lấy gà con có khối lượng cho phép sai lệch trên dưới không quá 15% so với khối lượng trung bình để đưa vào nuôi.

2.1.2. Ngoại hình tiêu chuẩn gà con 01 ngày tuổi cần chọn

– Gà con có màu lông toàn thân màu trắng đục, lông trên thân bông xốp

– Mỏ và da chân màu hồng, mỏ thẳng, chân mập và da chân bóng

– Mắt sáng mở to, đi lại nhanh nhẹn, rốn kín

2.1.3. Tỷ lệ chọn giống: Có thể áp dụng đến 90% nếu gà con đạt tiêu chuẩn khối lượng và ngoại hình

2.1.4. Đánh số: Gà con sau khi chọn giống sau sẽ được đánh số theo thú tự lần lượt, số bằng thẻ nhôm được quấn lỏng vào ống chân

2.2. Chọn giống giai đoạn 8 tuần tuổi (chọn gà vào nuôi hậu bị)

2.2.1. Cân xác định khối lượng trung bình

– Cân gà mái và gà trống riêng

– Cân mẫu 50 con và cân riêng từng con, sau đó tính khối lượng trung bình của 1 con

– Chọn lấy gà mái có khối lượng cho phép sai lệch trên dưới không quá 10% so với khối lượng trung bình, gà trống có khối lượng đạt tiêu chuẩn trung bình hoặc sai lệch không quá 3% so với khối lượng trung bình

2.2.2. Ngoại hình tiêu chuẩn gà cần chọn

– Chọn giống gà mái: Gà chưa phủ kín lông toàn thân, mới chỉ có lông cánh, lông đầu, lông cổ. Chọn lấy con có lông cánh màu nâu xám lá chuối khô ép sát thân, chân cao vừa phải da chân bóng có màu vàng nhạt, mỏ ngắn, mắt sáng,

– Chọn giống gà trống: Gà chưa phủ kín lông toàn thân, mới chỉ có lông cánh, lông đầu, lông cổ. Chọn lấy con có lông cánh màu đỏ thẫm mận chín ép sát thân, chân cao vừa phải da chân bóng có màu vàng nhạt, mỏ ngắn, mắt sáng, đã nhú mào rõ

2.2.3. Tỷ lệ chọn: Căn cứ vào khoảng chọn lọc khối lượng đã xác định, chọn theo nguyên tắc từ trên xuống dưới cho đến khi nào đủ số lượng gà mái và gà trống theo yêu cầu. Tuy nhiên giai đoạn này cần chọn với áp lực cao. Cụ thể gà mái chọn lấy số lượng có tỷ lệ không vượt quá 70%, gà trống chọn với tỷ lệ không vượt quá 15% so với tổng dàn

2.2.4. Gắn số: Gà sau khi được chọn giống xong sẽ chuyển vị trí đeo số từ số chân về đeo vào số cánh và được phân nuôi vào các chuồng riêng

2.3. Chọn giống giai đoạn 20 tuần tuổi (chọn gà vào sinh sản)

2.3.1. Cân xác định khối lượng trung bình

– Cân gà mái và gà trống riêng

– Cân mẫu 50 con và cân riêng từng con, sau đó tính khối lượng trung bình của 1 con

– Chọn lấy gà mái có khối lượng cho phép sai lệch trên dưới không quá 15% so với khối lượng trung bình, gà trống có khối lượng đạt tiêu chuẩn trung bình hoặc sai lệch không quá 10% so với khối lượng trung bình

2.3.2. Ngoại hình tiêu chuẩn gà cần chọn

– Chọn giống gà mái: Gà đã phủ kín lông toàn thân. Chọn lấy con có lông toàn thân màu nâu xám lá chuối khô ép sát thân và mượt bóng, chân cao vừa phải da chân bóng có màu vàng nhạt, mỏ ngắn, mắt sáng, đầu rộng và sâu vừa phải, mào nhô cao màu đỏ tươi. Khoảng cách giữa 2 mỏm xương khum rộng lọt 2 ngón tay và khoảng cách từ điểm cuối xương lưỡi hái đến mỏm xương khum rộng lọt 3 ngón tay. Da bụng mềm, lỗ huyệt hồng

– Chọn giống gà trống: Gà phủ kín lông toàn thân. Chọn lấy con có lông trên thân màu đỏ thẫm mận chín bóng mượt, lông cổ đỏ đậm, lông cánh xanh biếc ép sát thân, lông đuôi dài, đùi to, ngục nở, chân thẳng cao vừa phải, ngón chân thẳng, da chân bóng có màu vàng nhạt, đầu to, mỏ ngắn, mắt sáng, mào đỏ tươi thẳng đứng, tích tai to màu đỏ,

2.3.3. Tỷ lệ chọn: Chọn theo phương pháp bình ổn về khối lượng cơ thể với áp lực chọn lọc thấp, tỷ lệ chọn giống cao. Gà mái có thể chọn tỷ lệ từ 80-90%, gà trống chọn lấy tỷ lệ từ 70 – 80% theo yêu cầu số lượng

2.4. Chọn giống giai đoạn 38 tuần tuổi (chọn gà bố mẹ để thu trứng ấp thay thế đàn)

2.4.1. Thời điểm bắt đầu chọn giống: Chọn giống bắt đầu khi gà đạt 36 tuần tuổi

2.4.2. Chọn gà mái:

– Chọn những gà máí đạt tiêu chuẩn sau: Mắt sáng, nhanh nhẹn. Mào tươi, da bụng mềm, lỗ huyệt ướt mấp máy

– Loại bỏ khỏi đàn những gà có đặc điểm ngoại hình sau: Lông xơ, mào rụt, ấp bóng, da bụng cứng, thân mình gầy, lỗ huyệt khô và những con có biểu hiện thay lông

2.4.3. Chọn gà trống: Chọn lấy nhưng con dáng hùng dũng, lông mượt bóng, mào đứng to tươi đỏ, mắt sáng, tiếng gáy to vang, lông đuôi dài, đạp mái tốt

2.4.4. Ghép trống mái phối giống: Tỷ lệ ghép trống mái là 1/8 và cần để dành 5% gà trống dự trữ

III. KHỬ TRÙNG CHUỒNG VÀ DỤNG CỤ TRƯỚC KHI NUÔI GÀ

3.1. Sau mỗi đợt nuôi cần dọn dẹp, vệ sinh tiêu độc sát trùng chuồng trại, sau khi làm sạch cẩn thận mới đưa gà vào nuôi lứa mới

3.2. Tám bước làm mới lại chuồng sau mỗi đợt nuôi gà

1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. Đóng kín bạt che chuồng và cửa ra vào, ủ chuồng trong thời gian từ 10 ngày đến 30 ngày, sau đó mới được nuôi lứa mới Phun sát trùng toàn bộ chuồng và dụng cụ chăn nuôi, bạt che Quét vôi toàn bộ nền chuồng, tường bao, lối đi hành lang Sửa chữa nền chuồng những chỗ bị hỏng và để khô Rửa sạch nền chuồng vách ngăn, bạt che không được để cặn phân dính trên tường và trên nền Quét mạng nhện trong chuồng và khu vực xung quanh chuồng Tháo dỡ dụng cụ chăn nuôi đem ngâm và rửa kỹ bằng nước sạch Dọn chất thải, độn lót chuồng đưa ra ngoài xa để ủ nhiệt sinh học

3.3. Trước khi nhận gà vào nuôi 1 ngày cần phun sát trùng tiêu độc lại toàn bộ khu nuôi gà con và các dụng cụ bằng hóa chất sát trùng như Haniodine, hoặc Chloramin, VikonS 1% (100g pha loãng với 10 lit nước để phun), sau đó mở bạt để thoáng chuồng cho bay hết mùi rồi mới đưa gà vào

3.4. Rửa sạch bể chứa nước và sát trùng, sau đó đóng kín nắp và cấp nước dự trữ dùng cho gà uống

3.5. Người nuôi gà phải có quần áo riêng và ủng sạch để thay khi vào chuồng nuôi

IV. QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ CON, GÀ DÒ GIAI ĐOẠN 0-8 TUẦN TUỔI

4.1. Chuẩn bị các dụng cụ chăn nuôi

4.1.1 Rèm che: Rèm che bằng vải bạt hoặc bao tải dứa tận dụng may lại phù hợp với diện tích cần dùng

4.1.2. Chất độn chuồng: Dùng bằng trấu sạch và khô

4.1.3. Hố sát trùng được xây vỉa trước cửa ra vào. Có thể là khay sát trùng làm bằng tôn đựng thuốc sát trùng để nhúng ủng trước khi vào chuồng. Chất sát trùng là vôi bột hoặc các hóa chất sử dụng theo hướng dẫn của nơi sản xuất Một ngày trước khi nhận gà, chất sát trùng phải cho vào hố sát trùng hoặc khay sát trùng

4.1.4. Quây úm gà: Làm bằng cót ép cắt dọc có chiều cao 50cm, khi quây tròn lại có đường kính 2m có thể úm được 200 gà

4.1.5. Chụp sưởi: Làm bằng tôn đường kính rộng 80-100cm, bên trong lắp 3 bóng điện xen kẽ nhau. Những nơi không có điện hoặc nguồn điện thất thường có thể dùng bếp than nhưng khi sưởi cần thiết kế để đưa khí than ra ngoài

4.1.6. Máng uống:

– Sử dụng máng uống gallon chuyên dụng cho gà con định mức 50 con cho 1 máng. Máng uống khi đặt xen kẽ với khay ăn(hoặc máng ăn) theo hình rẻ quạt trong quây và cách đều giữa thành quây với chụp sưởi

4.1.7. Máng ăn: Trong 2 tuần đầu dùng khay ăn(khay bằng tôn hoặc bằng nhựa có kích thước 70 × 60cm) hoặc có thể dùng mẹt tre đường kính 60cm. Khay ăn được đặt trong quây xếp so le với máng uống. Các tuần sau dùng máng ăn P30 và P50

4.2. Kỹ thuật nuôi dưỡng gà con, gà dò từ 0-8 tuần tuổi

4.2.1. Trước khi nhận gà vào quây phải

– Kéo rèm che kín chuồng

– Bật đèn sưởi ấm trong quây úm khoảng 2 giờ nếu thời tiết ngoài trời lạnh

– Cho nước vào máng uống. Trong nước uống cần pha thêm thuốc kháng sinh, Bcomplex, và đường Glucoz theo hướng dẫn. Nước uống phải là nước sạch, an toàn và có thể đun nước cho ấm nếu úm gà vào mùa lạnh. Nước uống được cho vào máng gallon loại 1,5-2lit, đáy máng uống được kê phẳng bằng gạch mỏng đặt trên đệm lót

4.2.2. Khi thả gà vào quây thực hiện tuần tự các công việc sau

Kiểm soát nhiệt độ trong giai đoạn nuôi.

– Kiểm tra lại số lượng con sống và con chết

– Loại bỏ những con chết và gà không đạt tiêu chuẩn ra khỏi chuồng

4.2.3. Nhận gà con vào quây

– Sau khi chuẩn bị xong chuồng trại mới đưa gà vào quây

– Mật độ nuôi từ tuần thứ nhất đến tuần thứ ba là 20con – 18 con/m2 chuồng, từ tuần thứ tư đến tuần thứ sáu là 16con – 14 con/m2 chuồng, từ tuần thứ bảy đến tuần thứ chín là 12con đến 10con/m2 chuồng

4.2.4. Đưa ra khỏi chuồng úm các vỏ hộp đựng gà con, các chất lót vỏ hộp và gà con chết, gà loại để tiêu hủy

4.2.5. Cho gà uống nước ngay trước khi cho ăn.

4.2.6. Khung nhiệt sưởi ấm cho gà như sau

Trong hai tuần đầu úm gà thường xuyên quan sát gà và theo dõi nhiệt độ trong quây để điều chỉnh thiết bị sưởi nhằm cung cấp đủ nhiệt cho gà. Những dấu hiệu sau cần chú ý để điều chỉnh chụp sưởi hoặc thiết bị sưởi

– Nhiệt độ cao, đàn gà tản ra sát vành quây, kêu và thở

– Nhiệt độ thấp gà tập chung quanh chụp sưởi

– Nhiệt độ thích hợp đàn gà phân bố đều trong quây

4.2.7 Cho ăn

– Từ tuần thứ nhất đến tuần thứ ba dùng thức ăn gà con chủng loại 1-21. Từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 8 dùng thức ăn gà dò chủng loại 21-42 ngày. Nếu tự chế biến phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng ghi trong bảng 2

– Khi chuyển thức ăn từ thức ăn gà con sang thức ăn gà dò, công thức thay đổi cho gà ăn như sau

+ Ngày thứ nhất 75% thức ăn cũ và 25% thức ăn mới

+ Ngày thứ hai 50% thức ăn cũ và 50% thức ăn mới

+ Ngày thứ ba 25% thức ăn cũ và 75% thức ăn mới

+ Ngày thứ tư cho ăn 100% thức ăn mới

– Tuần thứ nhất đến hết tuần thứ hai cho gà ăn bằng khay hoặc mẹt(100 gà đặt 1 khay ăn). Rải mỏng, đều thức ăn lên khay ăn hoặc mẹt độ dầy 1cm, sau đó từ 2-3 giờ cạo sạch thức ăn lẫn phân có trong khay đem sàng để gạt bỏ phân ra ngoài, tận thu thức ăn cũ và tiếp thêm lượt mỏng thức ăn mới

– Khi gà được 3 tuần tuổi trở đi thay thế khay ăn bằng máng ăn cỡ trung bình P30 hoặc máng đại P50(40 -50con/máng), cần treo máng bằng dây, miệng máng đặt ngang với lưng gà

– Cho gà ăn tự do cả ngày đêm, bổ sung thêm thức ăn cho gà trong một ngày đêm từ 6-7 lần

4.2.8. Cho uống

– Dùng máng uống gallon, hai tuần đầu dùng máng cỡ 1,5-2,0lit, các tuần sau dùng máng cỡ 4,0lit

– Máng uống được rửa sạch hàng ngày và thay nước uống cho gà khoảng 4 lần(sáng, chiều, tối, và giữa đêm)

4.2.9. Chiếu sáng: Thời gian chiếu sáng đảm bảo 24/24 giờ đến tuần thứ 3 hoặc thứ 4, các tuần còn lại thắp sáng đến 22 giờ, cường độ chiếu sáng từ 5-10lux tương đương 2-4w/m2 chuồng

4.2.10. Trong hai tuần đầu rèm che phải đóng kín cả ngày đêm, từ tuần thứ ba trở đi đóng rèm phía hướng gió và mở rèm phía không có gió. Tuy nhiên việc đóng và mở rèm còn tùy thuộc vào thời tiết và sức khỏe đàn gà

4.2.11. Độn lót chuồng: Hàng ngày kiểm tra và dọn rìa xung quanh máng uống độn chuồng bị ướt, xới đảo độn lót chuồng từ 7-10 ngày/lần và bổ sung thêm lượt mỏng độn lót. Không thay độn lót chuồng thương xuyên

4.2.12. Từ tuần thứ 2 trở đi bắt đầu nới rộng quây úm và đến tuần thứ tư trở đi tháo bỏ hoàn toàn quây úm

4.2.13. Hàng ngày kiểm tra gà chết và gà yếu để loại thải. Ghi chép đầy đủ số lượng gà có mặt hàng ngày, lượng thức ăn cho ăn vào biểu theo dõi

4.2.14: Phương thức nuôi: Theo phương thức bán chăn thả

– Từ 01 đến 6 tuần tuổi nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng

– Từ 7 đến 8 tuần tuổi có thể thả gà ra vườn. Mật độ thả 0,5m2/con. Vườn thả thiết kế bằng phẳng, có trồng cây hoặc dàn cây che mát. Chu vi vườn thả được rào lưới cáo đảm bảo gà không thể bay qua hoặc chui ra ngoài. Chỉ thả gà khi thời tiết khô và ấm, thời tiết bất thuận(sau mưa, lạnh ẩm dài ngày phải nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng với mật độ 10 con/m2)

– Tuyệt đối không thả gà ngoài vườn trong đêm, đưa gà vào nuôi tại chuồng

V. QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ HẬU BỊ VÀ GÀ ĐẺ

5.1. Chuẩn bị dụng cụ và chuồng chăn nuôi

5.1.1.Rèm che: Dùng bằng vải bạt, hoặc vỏ bao tận dụng may lại

5.1.2. Hố sát trùng: Xây vỉa trước cửa ra vào kích thước 50 × 70 ×10cm

5.1.3. Máng uống: Dùng máng uống gallon loại 8 lít(100 gà có 2 máng) hoặc máng tôn dài 1,2m(100 gà có 1 máng)

5.1.4. Máng ăn: Dùng máng đại P50, nuôi gà giai đoạn từ 9-20 tuần tuổi bố trí 15 con đến 17con/máng. Nuôi gà đẻ 25con/máng

5.1.5. Ổ đẻ tính theo 5 con/ổ. Nên đóng ổ 2 tầng, mỗi tầng có 3 ngăn theo kích thước 35 × 35 × 35cm

5.1.6. Chuồng nuôi gà dò và gà đẻ có thể là chuồng chung hoặc chuồng riêng, trước khi đưa gà vào nuôi công tác vệ sinh sát trùng làm đúng như mục khử trùng chuồng nuôi

5.2. Kỹ thuật nuôi dưỡng gà hậu bị từ 9-20 tuần tuổi

5.2.1. Kéo rèm che mở hoàn toàn. Chỉ đóng rèm khi có gió to, trời giông bão, mưa to, quá lạnh và đàn gà bị bệnh đường hô hấp

5.2.2. Mật độ nuôi đảm bảo từ 10con đến 8con/ m2 chuồng tùy theo lứa tuổi gà

5.2.3. Cho gà ăn theo cách sau

– Dùng thức ăn gà hậu bị thức ăn hỗn hợp viên, nếu thức ăn tự chế biến phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của gà như ghi trong bảng 2 của quy trình

– Cho gà ăn bằng máng đại P50,. Máng được treo bằng dây, miệng máng cao ngang lưng gà. Mật độ máng ăn cho gà theo yêu cầu: 17con- 15 con/máng. Cho gà ăn hạn chế theo định lượng hàng tuần quy định

– Khi phân phối thức ăn vào máng cần đổ đều lượng, không cho máng có nhiều, máng có ít thức ăn

– Lượng ăn của gà được điều chỉnh hàng tuần sau khi có kết quả kiểm tra khối lượng cơ thể gà hàng tuần

5.2.4. Cân gà kiểm tra khối lượng

– Hàng tuần cân gà vào 1 ngày cố định(dùng cân đồng hồ để cân), cân gà trước khi cho ăn, số gà cân bằng 10% số gà có mặt trong chuồng, cân từng con, sau đó tính khối lượng trung bình. Khối lượng trung bình có được sẽ làm cơ sở để so sánh với khối lượng tiêu chuẩn tại cùng thời điểm để đưa ra mức ăn hợp lý của tuần kế tiếp

5.2.5. Cho gà uống theo cách sau

– Dùng máng uống gallon cỡ 8lit hoặc cho uống máng dài (loại máng dài 1,2m bằng tôn được đặt trên rãnh thoát nước), máng uống dài cần phải có chụp bằng song sắt để gà không nhảy vào máng

– Máng uống đặt số lượng 100 con cho 2 máng uống gallon và 100con cho 1 máng uống dài

– Máng uống rửa sạch hàng ngày thay nước uống 2 lần(sáng, chiều)

5.2.6. Chiếu sáng: Ngừng cung cấp điện chiếu sáng ban đêm, chỉ sử dụng ánh sáng tự nhiên ban ngày

5.2.7. Độn lót chuồng: Hàng ngày kiểm tra và dọn rìa xung quanh máng uống độn chuồng bị ướt, xới đảo độn lót chuồng từ 7-10 ngày/lần và bổ sung thêm

5.3. Kỹ thuật nuôi dưỡng gà đẻ từ 21 tuần trở đi

5.3.1.Mật độ nuôi đảm bảo từ 4con đến 4,5con/ m2 chuồng

5.3.2. Chiếu sáng: Cần thực hiện đúng theo các bước sau

– Kích thích chiếu sáng sẽ bắt đầu vào tuần tuổi thứ 20, bình quân mỗi tuần tăng thêm 1giờ để đạt được 14 giờ trong ngày

– Cường độ chiếu sáng đạt 10lux tức là 3-4W/m2, khoảng cách bóng đèn từ 3m đến 4m lắp 1bóng với công suất từ 40-60w

– Duy trì cố định thời gian chiếu sáng, không thay đổi tùy tiện thời gian chiếu sáng

5.3.3. Ổ đẻ xếp cạnh tường chuồng với chiều cao thích hợp 40cm, được đặt ở chỗ mát. Ổ thường xuyên được lót trấu sạch,

5.3.4. Chuồng nuôi để thông thoáng hoàn toàn, chỉ kéo rèm che khi có giông bão, mưa to tạt nước vào chuồng. Khi trời lạnh chỉ kéo bạt che nơi có gió thổi trực tiếp vào chuồng

5.3.5. Cho ăn

– Khi gà bước vào nuôi tuần tuổi thứ 20 chuyển thức ăn và cho ăn thức ăn gà đẻ

– Khi gà đẻ đạt tỷ lệ 5% toàn đàn bắt đầu tăng mức ăn (tăng theo nguyên tắc tăng dần) và đạt mức ăn cao nhất tại thời điểm đẻ đạt tỷ lệ 40%, 50%, và giữ nguyên mức ăn này đến thời điểm đạt đỉnh và suốt thời gian đạt đỉnh đẻ

– Sau thời điểm đạt đỉnh đẻ, gà bắt đầu đẻ xuống thì mức ăn cũng giảm theo, tuy nhiên không giảm đột ngột,

– Mức ăn thấp nhất sau khi điều chỉnh bằng 92 – 95% so với mức ăn đạt đỉnh và giữ nguyên mức ăn này cho đến khi loại thải đàn gà

– Cho ăn: Bố trí máng ăn 24con/máng (dùng loại máng ăn P50), hàng ngày cần nắm chắc số lượng gà có mặt trong chuồng để lấy thức ăn vừa đủ

5.3.6. Cho uống: Cho gà uống nước sạch và mát thỏa mãn, hàng ngày vệ sinh máng uống. Máng uống dùng loại máng dài đặt trên rãnh thoát nước có chụp song sắt. Mật độ máng uống đặt 2 máng dài cho 100 gà(loại máng tôn dài 1,2m)

5.3.7. Chất độn chuông giữ khô sạch. Khi ẩm ướt phải thay ngay bằng trấu hoặc dăm bào đã sát trùng và rắc vôi bột vào chỗ nền chuồng bị ướt

5.3.8. Phương thức nuôi: Nuôi gà theo phương thức bán chăn thả

– Vườn thả thiết kế bằng phẳng, có trồng cây hoặc tạo dàn cây che mát. Chu vi vườn thả được rào lưới đảm bảo gà không thể bay qua hoặc chui ra ngoài. Chỉ thả gà khi thời tiết khô và ấm, thời tiết bất thuận (sau mưa, lạnh ẩm dài ngày) phải nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng với mật độ 4 con/m2.

– Mật độ thả tối đa 1,5m2/con

CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO GÀ Bảng 2: Chế độ dinh dưỡng CHƯƠNG TRÌNH VACXIN PHÒNG BỆNH Ở GÀ Bảng 3 Chương trình sử dụng vacxin phòng bệnh ở gà được tóm tắt như bảng sau:

5.3.9. Chọn và loại thải gà đẻ định kỳ

TỶ LỆ ĐẺ, NĂNG SUẤT TRỨNG VÀ MỨC ĂN GỢI Ý Bảng 4: Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và mức cho ăn hàng ngày

– Thời điểm bắt đầu chọn và loại thải gà đẻ bắt đầu sau thời điểm gà đẻ đạt đỉnh và đi xuống nhằm loại ra những con không đẻ hoặc đẻ kém Những gà đẻ kém có các biểu hiện như sau:

+ Mào rụt, chân khô, và nhẹ cân

Nguồn: Hạt Thóc Vàng

+ Gà có bụng cứng, lỗ huyệt khô

+ Gà đang thay lông, hai bên sườn và cánh đang mọc lông măng

+ Mặc dù có các biểu hiện trên nhưng trước khi quyết định loại bỏ thì cũng cần kiểm tra xem có trứng non trong tử cung hay không

5.3.10. Thu nhặt trứng: thu nhặt trứng 3-4 lần trong ngày, trứng sau khi nhặt phải sếp vào khay để đầu to lên trên. Trứng bẩn và trứng dập phải để riêng

5.3.11. Hàng ngày kiểm tra gà chết và gà yếu để loại thải. Ghi chép đầy đủ số lượng gà có mặt hàng ngày, lượng thức ăn cho ăn và số trứng đẻ ra vào biểu hoặc sổ theo dõi

Đối với vacxin cúm gia cầm trong quá trình nuôi gà sinh sản tiếp tục sau đó cách 4 đến 5 tháng tuổi lại tiến hành tiêm nhắc lại. Vacxin cúm gia cầm có thể dùng vacxin H5N1 của Trung Quốc hoặc vacxin H5N2 của hãng Intervet hà Lan sản xuất đều có giá trị bảo hộ như nhau

Nguồn cung cấp: Cố vấn chuyên môn Tiến Sỹ Vũ Ngọc Sơn – Trưởng Bộ môn động vật Quý hiếm Viện Chăn Nuôi Quốc Gia, nguyên Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Thực Nghiệm vật nuôi Viện Chăn Nuôi Quốc Gia.

Tài liệu được chuyển giao với mục đích phổ cập kiến thức kỹ thuật chăn nuôi giúp cho bà con phát triển kinh tế chăn nuôi bằng giống gà mía.

(Chia Sẻ) Quy Trình Chọn Giống Và Chăn Nuôi Gà Mía Sinh Sản

I. PHẠM VI ÁP DỤNG

Quy trình này được hưởng cho các cơ sở nông trại & gia trại

II. QUY TRÌNH CHỌN GIỐNG CÁC GIAI ĐOẠN

2.1. Chọn giống thời điểm gà con 01 ngày tuổi

2.1.1. Cân khẳng định trọng lượng trung bình

– Cân kiểu 50 con & cân riêng mỗi con, sau đó tính trọng lượng bình quân của một con

– Chọn lấy gà con có trọng lượng cho phép sai lệch trên dưới không quá 15% đối với trọng lượng bình quân để mang vào nuôi.

2.1.2. Ngoại hình tiêu chí gà con 01 ngày tuổi cần chọn

– Gà con có màu lông toàn thân white color đục, lông trên thân bông xốp

– Mỏ & da chân màu hồng, mỏ thẳng, chân mập & da chân bóng

– Mắt sáng mở to, đi lại nhanh nhẹn, rốn kín

2.1.3. Tỷ lệ chọn giống: Có thể vận dụng đến 90% nếu gà con đạt tiêu chí trọng lượng & ngoại hình

2.1.4. Đánh số: Gà con sau thời điểm chọn giống sau sẽ được đánh số theo thú tự lần lượt, số bằng thẻ nhôm được quấn lỏng vào ống chân

2.2. Chọn giống thời điểm tám tuần tuổi (chọn gà vào nuôi hậu bị)

2.2.1. Cân khẳng định trọng lượng trung bình

– Cân gà mái & gà trống riêng

– Cân kiểu 50 con & cân riêng mỗi con, sau đó tính trọng lượng bình quân của một con

– Chọn lấy gà mái có trọng lượng cho phép sai lệch trên dưới không quá 10% đối với trọng lượng bình quân, gà trống có trọng lượng đạt tiêu chí bình quân hoặc sai lệch không quá 3% đối với trọng lượng trung bình

2.2.2. Ngoại hình tiêu chí gà cần chọn

– Chọn giống gà mái: Gà chưa phủ kín lông toàn thân, mới chỉ có lông cánh, lông đầu, lông cổ. Chọn lấy con có lông cánh gray clolor xám lá chuối khô ép sát thân, chân cao vừa phải da chân bóng có gold color nhạt, mỏ ngắn, mắt sáng,

– Chọn giống gà trống: Gà chưa phủ kín lông toàn thân, mới chỉ có lông cánh, lông đầu, lông cổ. Chọn lấy con có lông cánh red color thẫm mận chín ép sát thân, chân cao vừa phải da chân bóng có gold color nhạt, mỏ ngắn, mắt sáng, đã nhú mào rõ

2.2.3. Tỷ lệ chọn: Căn cứ vào tầm chọn lựa trọng lượng đã khẳng định, chọn theo nguyên lý từ trên xuống dưới cho tới một khi đủ số lượng gà mái & gà trống theo đòi hỏi. Mặc dù thời điểm này cần chọn với áp lực cao. Cụ thể gà mái chọn lấy số lượng có mật độ không vượt quá 70%, gà trống chọn với mật độ không vượt quá 15% đối với tổng dàn

2.2.4. Gắn số: Gà sau thời điểm được chọn giống xong sẽ chuyển vị trí đeo số từ số chân về đeo vào số cánh & được phân nuôi vào các chuồng riêng

2.3. Chọn giống thời điểm 20 tuần tuổi (chọn gà vào sinh sản)

2.3.1. Cân khẳng định trọng lượng trung bình

– Cân gà mái & gà trống riêng

– Cân kiểu 50 con & cân riêng mỗi con, sau đó tính trọng lượng bình quân của một con

– Chọn lấy gà mái có trọng lượng cho phép sai lệch trên dưới không quá 15% đối với trọng lượng bình quân, gà trống có trọng lượng đạt tiêu chí bình quân hoặc sai lệch không quá 10% đối với trọng lượng trung bình

2.3.2. Ngoại hình tiêu chí gà cần chọn

– Chọn giống gà mái: Gà đã phủ kín lông toàn thân. Chọn lấy con có lông toàn thân gray clolor xám lá chuối khô ép sát thân & mượt bóng, chân cao vừa phải da chân bóng có gold color nhạt, mỏ ngắn, mắt sáng, đầu rộng & sâu vừa phải, mào nhô cao red color tươi. Khoảng cách giữa 2 mỏm xương khum rộng lọt 2 ngón tay & tầm cách từ điểm cuối xương lưỡi hái đến mỏm xương khum rộng lọt 3 ngón tay. Da bụng mềm, lỗ huyệt hồng

– Chọn giống gà trống: Gà phủ kín lông toàn thân. Chọn lấy con có lông trên thân red color thẫm mận chín bóng mượt, lông cổ đỏ đậm, lông cánh xanh biếc ép sát thân, lông đuôi dài, đùi to, ngục nở, chân thẳng cao vừa phải, ngón chân thẳng, da chân bóng có gold color nhạt, đầu to, mỏ ngắn, mắt sáng, mào đỏ tươi thẳng đứng, tích tai to red color,

2.3.3. Tỷ lệ chọn: Chọn theo phương pháp bình ổn về trọng lượng thân thể với áp lực chọn lựa thấp, mật độ chọn giống cao. Gà mái có thể chọn mật độ từ 80-90%, gà trống chọn lấy mật độ từ 70 – 80% theo đòi hỏi số lượng

2.4. Chọn giống thời điểm 38 tuần tuổi (chọn gà ba mẹ để thu trứng ấp thay thế đàn)

2.4.1. Thời điểm khởi đầu chọn giống: Chọn giống bắt đầu khi gà đạt 36 tuần tuổi

2.4.2. Chọn gà mái:

– Chọn những gà máí đạt tiêu chí sau: Mắt sáng, nhanh nhẹn. Mào tươi, da bụng mềm, lỗ huyệt ướt mấp máy

– Loại bỏ khỏi đàn những gà có đặc tính vóc dáng bên ngoài sau: Lông xơ, mào rụt, ấp bóng, da bụng cứng, thân mình gầy, lỗ huyệt khô & những con có hội chứng thay lông

2.4.3. Chọn gà trống: Chọn lấy tuy nhiên con dáng hùng dũng, lông mượt bóng, mào đứng to tươi đỏ, mắt sáng, tiếng gáy to vang, lông đuôi dài, đạp mái tốt

2.4.4. Ghép trống mái phối giống: Tỷ lệ ghép trống mái là 1/8 & cần tiết kiệm 5% gà trống dự trữ

III. KHỬ TRÙNG CHUỒNG VÀ DỤNG CỤ TRƯỚC KHI NUÔI GÀ

3.1. Sau từng đợt nuôi cần dọn dẹp, vệ sinh tiêu độc sát trùng chuồng trại, sau thời điểm rửa sạch thận trọng mới mang gà vào nuôi lứa mới

3.2. Tám bước làm mới lại chuồng sau từng đợt nuôi gà

1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. Đóng kín bạt che chuồng & cửa ra vào, ủ chuồng trong quá trình từ 10 ngày đến 30 ngày, sau đó mới được nuôi lứa mới Phun sát trùng tất cả chuồng & dụng cụ chăn nuôi, bạt che Quét vôi tất cả nền chuồng, tường bao, lối đi hành lang Sửa chữa nền chuồng những chỗ bị hỏng & để khô Rửa sạch nền chuồng vách ngăn, bạt che không được để cặn phân dính trên tường & trên nền Quét màng nhện trong chuồng & vùng xung quanh chuồng Tháo dỡ dụng cụ chăn nuôi đem ngâm & rửa kỹ bằng nước sạch Dọn chất thải, độn lót chuồng mang ra ngoài xa để ủ nhiệt sinh học

3.3. Trước khi nhận gà vào nuôi 24h cần phun sát trùng tiêu độc lại tất cả khu nuôi gà con & các dụng cụ bằng hóa chất sát trùng như Haniodine, hoặc Chloramin, VikonS 1% (100g pha loãng với 10 lit nước để phun), sau đó mở bạt để thoáng chuồng cho bay hết mùi rồi mới mang gà vào

3.4. Rửa sạch bể chứa nước & sát trùng, sau đó đóng kín nắp & cấp nước dự trữ dùng cho gà uống

3.5. Người nuôi gà không thể thiếu quần áo riêng & ủng sạch để thay khi vào chuồng nuôi

IV. QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ CON, GÀ DÒ GIAI ĐOẠN 0-8 TUẦN TUỔI

4.1. Chuẩn bị các dụng cụ chăn nuôi

4.1.1 Rèm che: Rèm che bằng vải bạt hoặc bao tải dứa tranh thủ may lại phù phù hợp với diện tích cần dùng

4.1.2. Chất độn chuồng: Dùng bằng trấu sạch & khô

4.1.3. Hố sát trùng được xây vỉa trước cửa ra vào. Có thể là khay sát trùng làm bằng tôn đựng thuốc sát trùng để nhúng ủng trước lúc vào chuồng. Chất sát trùng là vôi bột hoặc các hóa chất sử dụng theo hướng dẫn của nơi sản xuất Một ngày trước lúc nhận gà, chất sát trùng phải bỏ vào hố sát trùng hoặc khay sát trùng

4.1.4. Quây úm gà: Làm bằng cót ép cắt dọc có chiều cao 50cm, khi quây tròn lại có đường kính 2m có thể úm được 200 gà

4.1.5. Chụp sưởi: Làm bằng tôn đường kính rộng 80-100cm, bên trong lắp 3 bóng điện xen kẽ nhau. Những nơi mất điện hoặc nguồn điện bất thường có thể dùng bếp than tuy nhiên khi sưởi cấp thiết kế để mang khí than ra ngoài

4.1.6. Máng uống:

– Sử dụng máng uống gallon chuyên dụng cho gà con định mức 50 con cho một máng. Máng uống khi đặt xen kẽ với khay ăn(hoặc máng ăn) theo hình rẻ quạt trong quây & cách đều giữa thành quây với chụp sưởi

4.1.7. Máng ăn: Trong 2 tuần đầu dùng khay ăn(khay bằng tôn hoặc bằng nhựa có kích thước 70 × 60cm) hoặc có thể dùng mẹt tre đường kính 60cm. Khay ăn được đặt trong quây xếp so le với máng uống. Các tuần sau dùng máng ăn P30 & P50

4.2. Kỹ thuật nuôi dưỡng gà con, gà dò từ 0-8 tuần tuổi

4.2.1. Trước khi nhận gà vào quây phải

– Kéo rèm che kín chuồng

– Bật đèn sưởi ấm trong quây úm tầm 2 giờ nếu thời tiết ngoài trời lạnh

– Cho nước vào máng uống. Trong nước uống cần pha thêm thuốc kháng sinh, Bcomplex, & đường Glucoz theo hướng dẫn. Nước uống phải là nước sạch, an toàn & có thể đun nước cho ấm nếu úm gà vào mùa lạnh. Nước uống được bỏ vào máng gallon kiểu một,5-2lit, đáy máng uống được kê phẳng bằng gạch mỏng đặt trên đệm lót

4.2.2. Khi thả gà vào quây tiến hành tuần tự các công việc sau

Kiểm soát nhiệt độ trong thời điểm nuôi.

– Kiểm tra lại số lượng con sống & con chết

– Loại bỏ những con chết & gà không đạt tiêu chí ra khỏi chuồng

4.2.3. Nhận gà con vào quây

– Sau khi chuẩn bị xong chuồng trại mới mang gà vào quây

– Mật độ nuôi từ tuần đầu tiên đến tuần thứ ba là 20con – 18 con/m2 chuồng, từ tuần thứ tư đến tuần thứ sáu là 16con – 14 con/m2 chuồng, từ tuần thứ bảy đến tuần thứ chín là 12con đến 10con/m2 chuồng

4.2.4. Đưa ra khỏi chuồng úm các bao bì đựng gà con, các chất lót bao bì & gà con chết, gà kiểu để tiêu hủy

4.2.5. Cho gà uống nước ngay trước lúc cho ăn.

4.2.6. Khung nhiệt sưởi ấm cho gà như sau

Trong hai tuần đầu úm gà liên tục để ý gà & theo dõi nhiệt độ trong quây để điều khiển trang bị sưởi nhằm cung ứng đủ nhiệt cho gà. Những tín hiệu sau cần lưu ý để điều khiển chụp sưởi hoặc trang bị sưởi

– Nhiệt độ cao, đàn gà tản ra sát vành quây, kêu & thở

– Nhiệt độ thấp gà tập chung quanh chụp sưởi

– Nhiệt độ phù hợp đàn gà phân bố đều trong quây

4.2.7 Cho ăn

– Từ tuần đầu tiên đến tuần thứ ba dùng đồ ăn gà con chủng kiểu 1-21. Từ tuần thứ 4 đến tuần thứ tám dùng đồ ăn gà dò chủng kiểu 21-42 ngày. Nếu tự chế biến phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng ghi trong bảng 2

– Khi chuyển đồ ăn từ đồ ăn gà con sang đồ ăn gà dò, phương thức đổi mới cho gà ăn như sau

+ Ngày đầu tiên 75% đồ ăn cũ & 25% đồ ăn mới

+ Ngày thứ hai 1/2 đồ ăn cũ & 1/2 đồ ăn mới

+ Ngày thứ ba 25% đồ ăn cũ & 75% đồ ăn mới

+ Ngày thứ tư cho ăn 100% đồ ăn mới

– Tuần đầu tiên đến hết tuần thứ hai cho gà ăn bằng khay hoặc mẹt(100 gà đặt một khay ăn). Rải mỏng, đều đồ ăn lên khay ăn hoặc mẹt độ dầy 1cm, sau đó từ 2-3 giờ cạo sạch đồ ăn lẫn phân có trong khay đem sàng để gạt bỏ phân ra ngoài, tận thu đồ ăn cũ & tiếp thêm lượt mỏng đồ ăn mới

– Khi gà được 3 tuần tuổi trở đi thay thế khay ăn bằng máng ăn cỡ bình quân P30 hoặc máng đại P50(40 -50con/máng), cần treo máng bằng dây, miệng máng đặt ngang với lưng gà

– Cho gà ăn tự do suốt suốt ngày đêm, bổ sung thêm đồ ăn cho gà trong 24h đêm từ 6-7 lần

4.2.8. Cho uống

– Dùng máng uống gallon, hai tuần đầu dùng máng cỡ một,5-2,0lit, các tuần sau dùng máng cỡ 4,0lit

– Máng uống được làm sạch mỗi ngày & thay nước uống cho gà tầm 4 lần(sáng, chiều, tối, & giữa đêm)

4.2.9. Chiếu sáng: Thời gian chiếu sáng bảo đảm 24/24 giờ đến tuần thứ 3 hoặc thứ 4, các tuần còn lại thắp sáng đến 22 giờ, cường độ chiếu sáng từ 5-10lux xấp xỉ 2-4w/m2 chuồng

4.2.10. Trong hai tuần đầu rèm che phải đóng kín suốt suốt ngày đêm, từ tuần thứ ba trở đi đóng rèm phía hướng gió & mở rèm phía không hề có gió. Mặc dù việc đóng & mở rèm còn phụ thuộc vào thời tiết & sức khỏe đàn gà

4.2.11. Độn lót chuồng: Mỗi ngày check & dọn rìa xung quanh máng uống độn chuồng bị ướt, xới đảo độn lót chuồng từ 7-10 ngày/lần & bổ sung thêm lượt mỏng độn lót. Không thay độn lót chuồng thương xuyên

4.2.12. Từ tuần thứ 2 trở đi bắt đầu nới rộng quây úm & đến tuần thứ tư trở đi tháo bỏ hoàn toàn quây úm

4.2.13. Mỗi ngày check gà chết & gà yếu để kiểu thải. Ghi chép đầy đủ số lượng gà sự hiện diện mỗi ngày, lượng đồ ăn cho ăn vào biểu theo dõi

4.2.14: Phương thức nuôi: Theo cách thức bán chăn thả

– Từ 01 đến 6 tuần tuổi nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng

– Từ 7 đến tám tuần tuổi có thể thả gà ra vườn. Mật độ thả 0,5m2/con. Vườn thả thiết kế bằng phẳng, có trồng cây hoặc dàn cây che mát. Chu vi vườn thả được rào lưới cáo đảm bảo gà chẳng thể bay qua hoặc chui ra ngoài. Chỉ thả gà khi thời tiết khô & ấm, thời tiết bất thuận(sau mưa, lạnh ẩm dài ngày phải nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng với tỷ lệ 10 con/m2)

– Tuyệt đối không thả gà ngoài vườn trong đêm, mang gà vào nuôi tại chuồng

V. QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ HẬU BỊ VÀ GÀ ĐẺ

5.1. Chuẩn bị dụng cụ & chuồng chăn nuôi

5.1.1.Rèm che: Dùng bằng vải bạt, hoặc vỏ bao tranh thủ may lại

5.1.2. Hố sát trùng: Xây vỉa trước cửa ra vào kích thước 50 × 70 ×10cm

5.1.3. Máng uống: Dùng máng uống gallon kiểu tám lít(100 gà có 2 máng) hoặc máng tôn dài một,2m(100 gà có một máng)

5.1.4. Máng ăn: Dùng máng đại P50, nuôi gà thời điểm từ 9-20 tuần tuổi sắp xếp 15 con đến 17con/máng. Nuôi gà đẻ 25con/máng

5.1.5. Ổ đẻ tính theo 5 con/ổ. Nên đóng ổ 2 tầng, từng tầng có 3 ngăn theo kích thước 35 × 35 × 35cm

5.1.6. Chuồng nuôi gà dò & gà đẻ có thể là chuồng chung hoặc chuồng riêng, trước lúc mang gà vào nuôi công tác vệ sinh sát trùng làm đúng như mục khử trùng chuồng nuôi

5.2. Kỹ thuật nuôi dưỡng gà hậu bị từ 9-20 tuần tuổi

5.2.1. Kéo rèm che mở hoàn toàn. Chỉ đóng rèm khi có gió to, trời giông bão, mưa to, quá lạnh & đàn gà bị bệnh đường hô hấp

5.2.2. Mật độ nuôi bảo đảm từ 10con đến 8con/ m2 chuồng tùy thuộc theo độ tuổi gà

5.2.3. Cho gà ăn theo cách sau

– Dùng đồ ăn gà hậu bị đồ ăn hỗn hợp viên, nếu đồ ăn tự chế biến phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của gà như ghi trong bảng 2 của quy trình

– Cho gà ăn bằng máng đại P50,. Máng được treo bằng dây, miệng máng cao ngang lưng gà. Mật độ máng ăn cho gà theo yêu cầu: 17con- 15 con/máng. Cho gà ăn giảm thiểu theo định lượng mỗi tuần quy định

– Khi phân bổ đồ ăn vào máng cần đổ đều lượng, không cho máng chứa nhiều, máng có ít thức ăn

– Lượng ăn của gà được điều khiển mỗi tuần sau thời điểm có hiệu quả check trọng lượng thân thể gà hàng tuần

5.2.4. Cân gà check khối lượng

– Hàng tuần cân gà vào 24h cố định(dùng cân đồng hồ để cân), cân gà trước lúc cho ăn, số gà cân bằng 10% số gà sự hiện diện trong chuồng, cân mỗi con, sau đó tính trọng lượng bình quân. Khối lượng bình quân nhận được đã làm cơ sở để đánh giá với trọng lượng tiêu chí tại cùng giai đoạn để mang ra mức ăn có lí của tuần kế tiếp

5.2.5. Cho gà uống theo cách sau

– Dùng máng uống gallon cỡ 8lit hoặc cho uống máng dài (loại máng dài một,2m bằng tôn được đặt trên rãnh thoát nước), máng uống dài cần không thể thiếu chụp bằng song sắt để gà không nhảy vào máng

– Máng uống đặt số lượng 100 con cho 2 máng uống gallon & 100con cho một máng uống dài

– Máng uống làm sạch mỗi ngày thay nước uống 2 lần(sáng, chiều)

5.2.6. Chiếu sáng: Ngừng cung ứng điện chiếu sáng ban tối, chỉ sử dụng ánh sáng bỗng nhiên ban ngày

5.2.7. Độn lót chuồng: Mỗi ngày check & dọn rìa xung quanh máng uống độn chuồng bị ướt, xới đảo độn lót chuồng từ 7-10 ngày/lần & bổ sung thêm

5.3. Kỹ thuật nuôi dưỡng gà đẻ từ 21 tuần trở đi

5.3.1.Mật độ nuôi bảo đảm từ 4con đến 4,5con/ m2 chuồng

5.3.2. Chiếu sáng: Cần tiến hành đúng theo các bước sau

– Kích thích chiếu sáng sẽ bắt đầu vào tuần tuổi thứ 20, trung bình hàng tuần gia tăng 1giờ để nhận được 14 giờ trong ngày

– Cường độ chiếu sáng đạt 10lux nghĩa là 3-4W/m2, tầm cách bóng đèn từ 3 mét đến 4m lắp 1bóng với công suất từ 40-60w

– Duy trì cố định thời gian chiếu sáng, giữ nguyên tùy tiện thời gian chiếu sáng

5.3.3. Ổ đẻ xếp cạnh tường chuồng với chiều cao phù hợp 40cm, được đặt tại chỗ mát. Ổ liên tục được lót trấu sạch,

5.3.4. Chuồng nuôi để thông thoáng hoàn toàn, chỉ kéo rèm che khi có giông bão, mưa to tạt nước vào chuồng. Khi trời lạnh chỉ kéo bạt che nơi có gió thổi trực tiếp vào chuồng

5.3.5. Cho ăn

– Khi gà bước vào nuôi tuần tuổi thứ 20 chuyển đồ ăn & cho ăn đồ ăn gà đẻ

– Khi gà đẻ đạt mật độ 5% toàn đàn bắt đầu tăng mức ăn (tăng theo nguyên lý tăng dần) & đạt tới ăn cao nhất tại giai đoạn đẻ đạt mật độ 40%, 1/2, & không thay đổi mức ăn này đến giai đoạn đạt đỉnh & suốt thời gian đạt đỉnh đẻ

– Sau giai đoạn đạt đỉnh đẻ, gà bắt đầu đẻ xuống thì mức ăn cũng giảm theo, tất nhiên không giảm bất ngờ,

– Mức ăn thấp nhất sau thời điểm điều khiển bằng 92 – 95% đối với mức ăn đạt đỉnh & không thay đổi mức ăn này cho tới khi kiểu thải đàn gà

– Cho ăn: Bố trí máng ăn 24con/máng (dùng kiểu máng ăn P50), mỗi ngày cần nắm chắc số lượng gà sự hiện diện trong chuồng để lấy đồ ăn vừa đủ

5.3.6. Cho uống: Cho gà uống nước sạch & mát thỏa mãn, mỗi ngày vệ sinh máng uống. Máng uống dùng kiểu máng dài đặt trên rãnh thoát nước có chụp song sắt. Mật độ máng uống đặt 2 máng dài cho 100 gà(loại máng tôn dài một,2m)

5.3.7. Chất độn chuông giữ khô sạch. Khi ẩm ướt phải thay ngay bằng trấu hoặc dăm bào đã sát trùng & rắc vôi bột vào chỗ nền chuồng bị ướt

5.3.8. Phương thức nuôi: Nuôi gà theo cách thức bán chăn thả

– Vườn thả thiết kế bằng phẳng, có trồng cây hoặc tạo dàn cây che mát. Chu vi vườn thả được rào lưới bảo đảm gà chẳng thể bay qua hoặc chui ra ngoài. Chỉ thả gà khi thời tiết khô & ấm, thời tiết bất thuận (sau mưa, lạnh ẩm dài ngày) phải nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng với tỷ lệ 4 con/m2.

– Mật độ thả nhiều nhất một,5m2/con

CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO GÀ Bảng 2: Chế độ dinh dưỡng CHƯƠNG TRÌNH VACXIN PHÒNG BỆNH Ở GÀ Bảng 3 Chương trình sử dụng vacxin phòng bệnh ở gà được tóm tắt như bảng sau:

5.3.9. Chọn & kiểu thải gà đẻ định kỳ

TỶ LỆ ĐẺ, NĂNG SUẤT TRỨNG VÀ MỨC ĂN GỢI Ý Bảng 4: Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng & mức cho ăn hàng ngày

– Thời điểm khởi đầu chọn & kiểu thải gà đẻ bắt đầu sau khoản thời gian gà đẻ đạt đỉnh & đi xuống nhằm kiểu ra những con không đẻ hoặc đẻ kém Những gà đẻ kém có các hiện tượng như sau:

+ Mào rụt, chân khô, & nhẹ cân

Nguồn: Hạt Thóc Vàng

+ Gà có bụng cứng, lỗ huyệt khô

+ Gà đang thay lông, hai phía sườn & cánh đang mọc lông măng

+ Tuy nhiên có các hiện tượng trên tuy nhiên trước lúc quyết định bác bỏ thì cũng cần check xem có trứng non trong tử cung hay không

5.3.10. Thu nhặt trứng: thu nhặt trứng 3-4 lần hàng ngày, trứng sau thời điểm nhặt phải sếp vào khay để đầu to lên trên. Trứng bẩn & trứng dập phải để riêng

5.3.11. Mỗi ngày check gà chết & gà yếu để kiểu thải. Ghi chép đầy đủ số lượng gà sự hiện diện mỗi ngày, lượng đồ ăn cho ăn & số trứng đẻ ra vào biểu hoặc sổ theo dõi

Đối với vacxin cúm gia cầm trong thời gian nuôi gà sinh sản tiếp đó sau đó cách 4 đến 5 tháng tuổi lại thực hiện tiêm nói lại. Vacxin cúm gia cầm có thể dùng vacxin H5N1 của Trung Quốc hoặc vacxin H5N2 của hãng Intervet hà Lan gia công đều có trị giá bảo hộ như nhau

Nguồn cung cấp: Cố vấn chuyên môn Tiến Sỹ Vũ Ngọc Sơn – Trưởng Bộ môn động vật Quý hiếm Viện Chăn Nuôi Quốc Gia, nguyên GĐ Trung tâm Bảo tồn Thực Nghiệm vật nuôi Viện Chăn Nuôi Quốc Gia.

Tài liệu được bàn giao với mục tiêu thông dụng kiến thức kỹ thuật chăn nuôi giúp cho bà con khởi phát kinh tế chăn nuôi bằng giống gà mía.

Nuôi Gà Nòi Sinh Sản Theo Hướng An Toàn Sinh Học

Nhiệt tình mời chúng tôi ra tham quan chuồng gà phía sau nhà, ông Nguyễn Văn Sinh nhanh chân đi lấy thức ăn cho đàn gà để “tập hợp” đàn gà vào chuồng cho khách xem. Nhìn đàn gà nòi sinh sản, ông Sinh bộc bạch: “Hơn 20 năm gắn bó với con heo nái sinh sản, rồi chuyển sang nuôi heo thịt nhưng đời sống gia đình không mấy phát triển bởi heo gặp dịch bệnh, giá cả bấp bênh. Tính ra mỗi năm nuôi đến hàng chục con heo nhưng lợi nhuận thu về không đáng kể, gặp năm heo bị dịch bệnh xem như mất trắng số tiền, còn mắc nợ tiền mua thức ăn. Thấy nuôi heo vất vả, không có lời, tôi chuyển sang nuôi gà thả vườn. Bởi nhờ thông qua các phương tiện truyền thông, tôi biết nhiều mô hình chăn nuôi gà hiệu quả. Tôi tự tìm tòi tài liệu trên google rồi học hỏi kỹ thuật nuôi gà nòi thịt. Đợt đầu tôi nuôi 300 con, chăm sóc tầm 4 tháng tôi xuất bán đàn gà nòi thịt, thu về lợi nhuận khá. Qua đó, tôi suy nghĩ muốn giảm chi phí, tăng lợi nhuận trong nuôi gà, phải nuôi gà nòi sinh sản nên tôi đã mua 100 con gà nòi sinh sản về nuôi, với số lượng gà trên, thu 40 quả trứng/ngày, trứng gà nòi được bán cho cơ sở ấp trứng, giá 5.000 đồng/trứng. Theo đó, nhằm đảm bảo chuồng nuôi sạch sẽ, mỗi ngày 2 lượt, tôi phải giặt miếng bạt lót dưới nền đất dầy phân gà. Tôi đang nghĩ cách để làm thế nào không phải giặt miếng lót chuồng gà mỗi ngày, thì được Trạm Khuyến nông TX. Ngã Năm hỗ trợ đầu tư mô hình chăn nuôi gà nòi sinh sản theo hướng an toàn sinh học. Trạm Khuyến nông thị xã đã hướng dẫn kỹ thuật làm đệm lót sinh học trong chuồng chăn nuôi gà, kể từ đó chuồng gà luôn sạch sẽ, đàn gà phát triển rất tốt”.

Theo ông Sinh, kể từ lúc áp dụng chăn nuôi gà nòi sinh sản theo hướng an toàn sinh học do Trạm Khuyến nông thị xã triển khai thì lượng trứng do gà đẻ tăng lên. Nếu như trước đây 100 con gà chỉ đẻ được 40 trứng/ngày, thì khi áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, 100 con gà đẻ 60 trứng/ngày. Việc cho gà ăn cũng thay đổi bằng việc dùng máng ăn, cho ăn đúng giờ, bổ sung các loại vitamin cần thiết, tiêm phòng vắc xin đầy đủ nên gà luôn khỏe mạnh.

Cán bộ Trạm Khuyến nông TX. Ngã Năm Huỳnh Phương Khanh chia sẻ: “Chăn nuôi gà theo hướng an toàn sinh học góp phần cải thiện môi trường sống cho người chăn nuôi, đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn dịch bệnh, tạo cơ hội phát triển chăn nuôi nơi dân cư đông đúc, nâng cao chất lượng sản phẩm; tăng thêm thu nhập cho người chăn nuôi trên cùng diện tích, tạo ra việc làm cho bà con trong thời gian nhàn rỗi, thúc đẩy phát triển chăn nuôi gia cầm trên địa bàn TX. Ngã Năm”. Đồng thời, để chọn được gà nòi sinh sản tốt, người chăn nuôi nên chọn gà mái có màu xám đá, vóc dáng to, chân cao vừa phải, mắt sáng, mồng đỏ tươi, khoảng cách giữa hai xương chậu rộng, cổ cao, thịt rắn chắc, gà mái trưởng thành có trọng lượng 1,6kg – 1,8kg. Đối với gà trống, lựa chọn gà có màu đặc trưng của giống, vóc dáng to, chân cao, mắt sáng, mồng đỏ tươi và dựng đứng, vảy mịn và có màu sáng, vai nở, ức rộng, năng động, hăng hái, trọng lượng gà trưởng thành từ 2,5kg – 3kg. Theo đó, mô hình nuôi gà nòi sinh sản theo hướng an toàn sinh học là mô hình hiệu quả qua thực tế tại hộ nuôi. Tới đây, đơn vị sẽ nhân rộng cho hộ chăn nuôi trên địa bàn toàn thị xã – ông Huỳnh Phương Khanh cho biết thêm.

THÚY LIỄU

Kỹ Thuật Nuôi Dúi Sinh Sản. Cách Nuôi Dúi Sinh Sản Năng Suất Cao

Dúi là vật nuôi còn khá mới mẻ với đa số vùng nông thôn hiện nay. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, mô hình nuôi dúi đang phát triển rất mạnh mẽ, trở thành hướng chăn nuôi tiềm năng mới cho bà con nông dân. Kiến thức quan trọng nhất khi phát triển số lượng đàn dúi là kỹ thuật nuôi dúi sinh sản, tuy không khó nhưng có nhiều điểm cần phải lưu ý. Bài viết này chúng tôi sẽ chia sẻ tới bà con cách chọn dúi giống, làm chuồng nuôi và thức ăn cho dúi sinh sản.

1. Chuồng nuôi dúi sinh sản

Với tính thích đào bới và sống ở những chỗ hẹp, kín đáo thì làm nơi trú ẩn cho dúi không quá quy mô, chỉ cần 50-60 cm. Vật liệu xây chuồng nên sử dụng gạch (để lát nền, hình vuông khoảng 50cm, 30cm và xây tường), cát, xi măng, lưới. Xây ô phối giống kích thước 50x60x24cm. Kích thước ô nhỏ 30x60x24cm, ngăn làm 2 ngăn để làm tổ đẻ, đối với dúi sinh sản làm 2 ô, ô bên trong để sinh sản, ô bên ngoài để thức ăn và là sân chơi thông qua một lỗ 16x11cm. Dùng lưới để làm cửa, có thể làm 1 cánh cửa cho 6 ô, 4 ô hoặc 2 ô, cắt một đoạn ở phần dưới đáy ô để bỏ thức ăn vào và cũng là lối thoát phân cho dúi mỗi khi chúng đùn phân ra ngoài, yêu cầu ô lưới phải đạt 2 ly trở lên, không được nhỏ quá phân sẽ không thoát ra ngoài được. Chuồng có thể làm nhiều tầng, mỗi tầng có nhiều ô, mỗi ô có thể thả từ 2-3 con dúi. Xung quanh chuồng nên xây bờ bao, phòng khi con dúi xổng chuồng không thể thoát ra ngoài được, chiều cao bờ bao khoảng 50cm. Phải có mái che để dúi tránh bị nắng trực tiếp và nước mưa dính vào người. Nếu ở miền Bắc, mùa đông có thể dùng miếng vải hoặc rèm che chuồng để giữ ấm cho dúi.

Cách phân phân biệt dúi đực và dúi cái:

Dúi đực: quan sát bộ phận sinh dục của dúi, nếu là con đực dúi sẽ có 2 tinh hoàn tương tự như của chó, và không có vú.

Dúi cái: nhìn phần bụng sẽ thấy 2 hàng vú ở hai bên bê sườn như lợn.

Chọn con dúi đực khỏe mạnh, không dị tật, tương đương hoặc to hơn dúi cái. Một con dúi đực có thể cho phối giống với 4- con dúi cái. Dúi cái nếu có thể biết nguồn gốc bố mẹ thì tốt, lựa chọn nguồn theo bố mẹ khỏe mạnh, nuôi con mau lớn. Nếu không biết nguồn gốc thì ngoại hình phải to vừa, không quá nhỏ, có hàng vú đều hai bên, lông mượt, chạy khỏe. Chu kỳ sinh sản của dúi cái là khoảng 8 tháng.

3. Thức ăn cho dúi sinh sản

Đặc điểm sinh học của dúi: dúi có tuổi đời trung bình khoảng 6 năm. Số lần để trong năm khoảng 3-4 lần, 3-5con/lần đẻ.Dấu hiệu nhận biết dúi cái đến thời kỳ động dục: Từ lúc sinh ra cho tới khi đến thời điểm động dục là khoảng 6 tháng (dúi cái thường mang thai trong vòng 45 ngày).Biểu hiện muốn động dục: dúi cái thường bỏ ăn hoặc ăn ít, sục sạo tìm gì đó như tìm đực, bộ phận sinh dục chuyển sang màu đỏ hồng. Thời điểm này, nếu cho dúi cái sang ô dúi đực, chúng sẽ phát ra tiếng kêu đặc trưng, và chủ động cho dúi cái phối giống.Cách ghép đôi: Bắt dúi cái cho vào ô dúi đực, đừng thả gần dúi đực tránh trường hợp cắn nhau, nếu cho chúng ở chung một ô mà không cắn nhau là được.Dúi giao phối: Thời gian giao phối giữa dúi cái và dúi đực khoảng 1,5-2 phút. Sau khi phối xong, quan sát thấy cả dúi đực và dúi cái cùng liếm bộ phận sinh dục tức là dấu hiệu giao phối thành công, nếu dúi cái không thực hiện hành động này tức là giao phối không thành công. Chu kỳ giao phối của dúi đực là từ 7-10 ngày. Dúi cái sau 2-3 ngày giao phối đưa đến tổ đẻ để chuẩn bị cho sinh sản. Cho rơm, hoặc rác mềm vào để dúi bện tổ nuôi con.

Dúi con mới đẻ ra không có lông, mắt chưa mở, chỉ mở mắt khi đã đủ 14 ngày tuổi, lúc này lông cũng bắt đầu mọc. Sau 20 ngày tuổi, dúi con có thể tập ăn các loại thức ăn như mía, tre. Cho dúi con lẻ mẹ khi được 1,5 tháng. Khi dúi được khoảng 1.2 – 1.3kg thì có thể xuất bán.* Lưu ý: Dúi cái có đặc điểm, sau khi sinh con, nếu có người xem thường xuyên chúng sẽ tha con ra ngoài tổ, vì thế không nên thăm tổ đẻ nhiều, để dúi mẹ tự chăm sóc cho dúi con đến khi dúi con được 2 tuần tuổi.

Theo chúng tôi

Mô Hình Nuôi Gà Sao Sinh Sản

Sau các đợt dịch cúm gia cầm hoành hành, anh Đặng Lâm Quốc Bảo, sinh năm 1979 (hiện ở xã An Tây, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương) chuyển sang các mô hình chăn nuôi mới, như nuôi nhím, heo rừng, nhưng con vật anh tâm đắc nhất đó là nuôi gà sao sinh sản. Đây là giống gà có nhiều triển vọng, hình dáng đẹp, có thể nuôi làm cảnh, hoặc nuôi thương phẩm, chất lượng thịt thơm ngon đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Đặc biệt giống gà này có sức đề kháng rất cao, ít bệnh.

Trao đổi với chúng tôi anh Bảo cho biết: “Ngay từ bé tôi đã rất thích gần gũi bới nững con vật nuôi. Vì thế, ngay cả khi đã là sinh viên trường ĐH Xây dựng, tôi vẫn dành thời gian nuôi mấy con thỏ, vài chục con gà ta chủ yếu để cải thiện bữa ăn…!”. Học xong đại học xây dựng, anh đi làm cho một công ty tư nhân ở chúng tôi Tuy nhiên, cuộc sống phố thị không níu giữ được chân chàng trai trẻ. Năm 2007 anh tìm về chốn làng quê với 13.000m2 đất xây dựng trang nuôi nhím, heo rừng, bò và đặc biệt là nuôi gà sao.

Anh cho biết, ban đầu chỉ nuôi vài con làm cảnh, qua thời gian nuôi thấy gà sao cũng dễ nuôi, chất lượng thịt thơm ngon. Ngoài ra gà sao giống và thịt bán được giá, có sức đề kháng tốt, ít bị dịch bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm do virus. Đặc biệt, thịt gà sao nay đã trở thành món ăn độc đáo trong các thực đơn ở nhà hàng, quán ăn lớn. Thị trường tiêu thụ chủ yếu là chúng tôi Vũng Tàu, Đà Lạt, Đồng Nai, Cần Thơ… Ngoài ra người mua gà sao làm cảnh trong vườn, trang trại hay khu du lịch ngày một tăng cao, nhưng nguồn gon giống vẫn chưa cung cấp đủ. Trước tình hình cầu vượt quá cung, anh Bảo quyết định về tỉnh Tiền Giang mua 500 con giống về nuôi sinh sản để cung ứng cho thị trường gà sao giống khá khan hiếm hiện nay.

Anh Bảo tâm sự. Hồi mới xây dựng trang trại, vốn liếng cũng khó khăn lắm. Để lấy ngắn nuôi dài anh mở công ty xây dựng, tuyển dụng 40 công nhân, lợi nhuận từ xây dựng, anh đầu tư cho trại chăn nuôi. Sau một thời gian xây dựng trang trại chăn nuôi nhím, heo rừng, bò, gà sao sinh sản, mỗi tháng anh Đặng Lâm Quốc Bảo thu nhập từ 40-50 triệu đồng, ngoài ra tạo công ăn việc làm thường xuyên cho 5 lao động với mức lương từ 2 triệu – 3 triệu đông/tháng.

Anh Bảo chia sẻ kinh nghiệm nuôi gà sao sinh sản:

Trước hết, nuôi gà sao cần hiểu rõ tính hoang giã của chúng. Gà sao thường sống từng bầy đàn, thích bay khi di chuyển, tính nhút nhát, hay kêu, sợ tiếng động mạnh, khi nuôi gà sao cần chú ý một số điểm sau:

Làm chuồng trại: chọn nơi cao ráo, thoáng mát, yên tĩnh, có thể tận dụng chuồng heo, chuồng bò, gà vịt… Trên mặt chuồng heo ta làm giàn, gác tre để cho gà bay lên đậu. Có thể làm 2 hoặc 3 tầng nuôi quản lý theo hướng bán chăn thả. Xung quanh dùng lưới B40 quây, ở trên căng lưới lan, vừa che nắng vừa ngăn không cho gà bay.

Thức ăn: Chủ yếu là cho ăn lứa và bèo tây (lục bình), cho ăn vừa phải, nếu cho ăn thức ăn nhiều đạm, gà béo quá đẻ ít. Trước khi gà đẻ khoảng 10 ngày, bắt đầu cho ăn thức ăn của gà đẻ (chế biến sẵn).

Thả giống bố mẹ: Chọn gà mái, gà trống to khoẻ, màu sắc đẹp, tỷ lệ 3 đực, 6 cái. Gà sao tự đẻ theo mùa (đầu mùa mưa đến cuối mùa mưa) và ấp trứng nhưng hiệu quả không cao, do gà sao không biết chăm sóc con như gà ta. Nên sử dụng tủ ấp, nhiệt độ thích hợp cho gà nở là 3708, sau 28 ngày gà nở, cho gà con vào lồng để úm.

Cách làm lồng úm: trước đây anh Bảo làm lồng úm hình vuông, gà thường dồn vào một góc, nhiệt độ cao gà hay bị chết. Bây giờ anh làm lồng úm hình tròng, gà phân tán đều, nhiệt độ ổn định gà ít bị chết.

Làm khung lồng úm, hình tròn đường kính 2m, cao 50cm, đáy dùng lưới sắt vuông 1cm. Xung quanh dùng bao xác rắn quây kín, trên có nắp đậy để giữ nhiệt và chống chuột. Dùng bóng đèn tròn để sưởi cho gà con, nhiệt độ thích hợp 36-37 C. Thời gian úm khoảng 15 ngày mỗi mẻ úm 200 gà con.

Chăm sóc gà con: Thời gian này cho gà ăn thức ăn chế biến sẵn (thức ăn công nghiệp) có bán ngoài thị trường, theo tháng tuổi. Cho gà uống nước sạch hoặc qua lắng lọc, có thể pha thêm chất điện giải, cung cấp vitamin C, D, E, A, Bcomlex… để tăng sức đề jgabgs, Gà cứng cáp sau đó thả nuôi, hoặc xuất bán gà con. Gà con (mới nở) 40.000đ/con; gà thịt thương phẩm giá từ 100.000-120.000 đ/kg; gà hậu bị 90 ngày tuổi giá 200.000đ/con.