Xu Hướng 2/2024 # R.i.p Một Chiến Kê Trẻ Anh Hùng # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết R.i.p Một Chiến Kê Trẻ Anh Hùng được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tác giả

Chủ nhật buồn, trời mưa lâm xâm, vẫn phải đi làm từ sáng sớm, chiều về thì giật mình nghe trong vườn cứ chát chát bịch bịch, chạy vội ra xem thì ôi thôi : hai a e thằng tía hàng ngày vẫn thân thiết tình cảm là thế mà bông dưng nay lại huynh đệ tương tàn, vội bắt ra nhưng xem chừng không kịp nữa rồi. Tiếc cho thằng tía anh cũng là 1 chiến kê anh hùng đánh chết không chạy

Còn đây là hình ảnh đứa em bất đễ, nhìn cái mặt câng câng mà thấy ghét

Người sửa: duongpham – 27/07/2014 lúc 8:21pm

chia buồn nhưng như vậy mình biết được con nào anh hùng hơn

chúc mừng bạn.. con tía em đã có 1 sao và là con anh hùng nhất nhà.. hjhj

con kia bị sẻ đầu đau nhỉ,thằng còn lại đánh tốt quá còn gì bạn,

chung lại là quy luật sinh tồn :)))))

Hoàng Trọng Hùng 0347554169Mình là 1 người mới chơi gàNếu mình có nói gì làm bạn không vui thì mong bạn bỏ qua cho, vì cá nhân mình còn gà lắm, và mình có ý tốt thôi

Thằng tía anh tốt thế mà bị hạ ko thương tiếc chắc thằng e cao thủ lắm nhỉ.

– ¡ £Ö/€ ŸÖµ –(094.324.3579)

n2mnhj viết:

Thằng tía anh tốt thế mà bị hạ ko thương tiếc chắc thằng e cao thủ lắm nhỉ.

có lẽ đến lúc này chỉ có thằng tía a là biết đc thằng tía a nó đánh như thế nào thôi, gà còn tơ quá, bố chúng nó là gà ôm đấm đa lối.

hieuhp viết:

Chân tơ đánh tốt gà khá

thank bạn, nhưng bạn nói con trong clip hay con e nó vậy.hi

thằng em chả bị gì thằng anh thì chết.thế thằng em là thần kê à bác

1 thằng đầu như bị chó cắn1 thang sạch Ko tì vếtLinh kê rồi…..

cái đầu bị gà đá mà em tưởng dính cái lưỡi cuốc chớ

Tranquyenlc viết:

1 thằng đầu như bị chó cắn1 thang sạch Ko tì vếtLinh kê rồi…..

mình quây vườn chỉ thả 3 e gà tơ, nội bất xuất , ngoại bất nhập, và lúc mình đi làm về con gà anh vẫn đang đứng cho con em đá, 2 chân con gà em đầy đất trộn máu. Bình thường vẫn thả bọn nó chung vườn chẳng sao, vì con e nó vẫn sợ con anh từ bé, nay chắc trời mưa, dính tý bùn đất, nó ko nhận ra anh e nhà nó nên mới choảng nhau , ai ngờ để lại hậu quá đau lòng như thế.

tiếc cho gà anh không còn cơ hội thi thố với đời

bị gì chứ làm sao đá đc kiểu đó

Vô Địch Sinh Đẻ viết:

bị gì chứ làm sao đá đc kiểu đó

Mình về thấy có tiếng gà đá nhau, vội ra vườn thì thấy con gà anh đang đứng cho con gà em đá, vội bắt ra, thì cái nhìn đầu tiên là kinh hãi, hộp sọ nứt nhìn thấy não, có cái dây gì trắng trắng bị đứt ra chỗ gần đỉnh đầu, mình có hỏi mấy anh em, có người nói có thể bị chó hoặc còn gì căn, hay là trong lúc đánh nhau con gà tía anh bị giắt vào cái gì bất lợi , ko thể rút đầu ra được nên mới bị đánh như thế, khả năng 1 bị loại trừ vì vườn mình quây nôi bất xuất , ngoại bất nhập, xung quanh là 4 bức tường, ko trông cây gì, ko để bất kì thứ gì khác ngoài đất và cát, nên khả năng 2 cũng loại trừ nốt, chỉ còn ko hiểu được là con em nó đánh kiểu gì, kiểm tra chân con em, thì móng thới , quản đẫm cát trộn máu, mặt mũi chỉ bị xây xát nhẹ, mình kiểm tra chân cẳng đế chậu thấy ko vấn đề gì, vỗ qua rãi rớt vệ sinh cho nó, rồi chụp ảnh 2 anh em nó úp lên đây. Đây là hình ảnh vườn nhà mình’

Những Anh Hùng Trong Kháng Chiến Chống Mĩ

Nguyễn Văn Trỗi, sinh năm 1940, quê ở xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 17 tháng 2 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ biệt động thành phố Sài Gòn, đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

Nguyễn Văn Trỗi là công nhân thợ điện Sài Gòn. Sống giữa xã hội bất công thối nát của Mỹ – ngụy, hàng ngày chứng kiến những hành động tội ác của bọn tay sai bán nước và bộ mặt đểu cáng của giặc Mỹ xâm lược, anh nung nấu mối căm thù chúng. Nguyễn Văn Trỗi đã tìm đến cách mạng và được giáo dục giác ngộ. Sau đó anh tình nguyện gia nhập đội biệt động 65, Quân khu Sài Gòn – Gia Định.

Là một thanh niên giàu lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, một chiến sĩ vũ trang gan dạ, Nguyễn Văn Trỗi luôn hăng hái thực hiện mọi công tác của đội biệt động giao cho, vừa hoạt động, vừa tích cực vận động giác ngộ bạn bè tham gia công tác cách mạng.

Tháng 5 năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi được tổ chức giao nhiệm vụ giết tên Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Mác-na-ma-ra, một tên trùm tội ác chiến tranh. Đây là trận đánh mang ý nghĩa chính trị rất lớn. Lợi dụng thế hợp pháp là công nhân, vừa đi làm Nguyễn Văn Trỗi vừa nghiên cứu quy luật đi về của tên bộ trưởng chiến tranh Mỹ, suy nghĩ tím cách đánh phù hợp nhất. Theo kế hoạch chỉ đạo của trên, ngày 9 tháng 5 năm 1964, đồng chỉ thực hiện trận đánh bằng cách dùng mìn điểm hỏa bằng điện đặt ở cầu Công Lý, đón tên Mác-na-ma-ra trên đường đi ra sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng trận đánh chưa thực hiện được thì bị lộ và anh bị bắt.

Địch giam Nguyễn Văn Trỗi ở khám Chí Hòa và mọi thủ đoạn từ dụ dỗ đến tra tấn dã man vẫn không khuất phục được anh. Trong những ngày bị giam cầm Nguyễn Vàn Trỗi đã đấu tranh quyết liệt với địch bâng mọi lý lẽ và ý chí bất khuất, khiến bọn chúng tức tối và kính nể. Khí phách anh hùng của anh đã cổ vũ anh em trong tù tăng thêm nghị lực đấu tranh.

Sau 4 tháng giam giữ không làm chuyển được tấm lòng kiên trinh của Nguyên Văn Trỗi, chính quyền Nguyễn Khánh đã kết án tử hình anh. Trong những ngày còn lại của đời mình, Nguyễn Văn Trỗi vẫn lạc quan, tin tưởng và tiếp tục đấu tranh với địch. Ngày 15 tháng 10 năm 1964, chứng đã hèn hạ giết Nguyễn Văn Trỗi.

9 phút cuối cùng ở pháp trường, Nguyễn Văn Trỗi đã hiên ngang vạch tội quân bán nước và cướp nước, khẳng định việc làm chính đáng của mình, khẳng định cách mạng Việt Nam nhất định thắng lợi. Đồng chí dõng dạc hô to 3 lần: “Hồ Chí Minh muôn năm.” Khi bị trúng đạn ngã xuống Nguyễn Văn Trỗi cố gượng dậy hô: Việt Nam muôn năm!

Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi đã làm xúc động dư luận trong nước và thế giới.

Trong phiên họp bất thường ngày 17 tháng 10 năm 1964, Chủ tịch đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam quyết định tặng danh hiệu Anh hùng và Huân chương Thành đồng hạng nhất cho liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi.

Nguyễn Văn Đừng sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở ấp 1, xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp nhập ngũ ngày 5 tháng 9 năm 1959. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 261A (tiểu đoàn ghi rông) đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nguyễn Văn Đừng đã tham dự hơn 30 trận chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, dũng cảm, có tác phong chiến đấu rất mưu trí, linh hoạt, khi tiến công thì mãnh liệt chớp nhoáng, khi bám trụ thì gan góc kiên cường, có ý thức chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh một cách kiên quyết, triệt để, được cấp trên tin cậy, thường giao nhiệm vụ quan trọng đột xuất trong những tình huống đặc biệt, được đồng đội yêu mến.

Nguyễn Văn Đừng là tiểu đội trưởng của “tiểu đội gang thép” ở Ấp Bắc.

Trong trận đánh vận động ở Thủ Thừa, 1 tiểu đoàn địch lọt vào trận địa của ta. Bộ phận chặn đầu và trinh sát của ta đã nổ súng đánh địch, nhưng chưa có lệnh của cấp trên, Nguyễn Văn Đừng vẫn kiên trì nằm phục, mặc cho địch vào cách 15 mét rồi 10 mét, khi có lệnh mới bất ngờ nổ súng tiêu diệt quân địch. Trận đánh diễn biến gay go, bọn địch triển khai chiếm địa hình có lợi chống trả lại ta rất quyết liệt. Được lệnh, đồng chí đã dũng cảm vác trung liên vượt qua bãi trống dưới làn đạn địch, thọc vào giữa đội hình của chúng, tạo thời cơ thuận lợi cho đợn vị xung phong, đánh bại tiểu đoàn “Cọp đen” nổi tiếng ác ôn.

Trong trận đánh địch ở Gò Công, đơn vị bố trí phục kích diệt một toán quân địch. Tình huống diễn biến không như dự kiến. Quân địch hành quân hướng khác, chỉ chạm phải khúc đuôi của trận địa ta. Hai bên nổ súng chiến đấu quyết liệt. Đại bộ phận quân ta vẫn giữ được bí mật trận địa. Đại đội trưởng lệnh cho tiểu đội Nguyễn Văn Đừng bí mật vận động lên, đánh tạt sườn quân địch. Đồng chí vác trung liên dẫn đầu tiểu đội cơ động, bất ngờ đột kích mãnh liệt vào bên sườn trái, hất quân địch vào thế trận của ta. Bị đòn bất ngờ, toàn bộ đội hình quân địch rối loạn trước sức tiến công dồn dập của cả đơn vị. Kết thúc trận đánh, ta diệt 145 tên, thu nhiều súng các loại.

Trong trận Ấp Bắc lịch sử, tiểu đội của Nguyễn Văn Đừng nhận nhiệm vụ hướng phòng ngự chủ yếu. Sau khi đã vận động ra tiêu diệt một cánh quân địch đổ bộ, trở về trận địa, đồng chí động viên anh em: “Dù ác liệt thế nào, cũng kiên quyết giữ vững trận địa, tiêu diệt địch đến cùng…”.

Bọn địch lại tổ chức những đợt tiến công mới chúng liên tục cho phi pháo và xe M.113 đánh vào trước mặt, rồi cho máy bay lên thẳng đổ quân xuống sau lưng trận địa ta. Địch 5 lần phối hợp xung phong vào, nhưng đều bị tiểu đội của đồng chí đánh bật ra. Cho đến chiều tối,cả tiểu đội chỉ còn lại 3 người: đồng chí và 2 chiến sĩ nữa. Địch lại tổ chức xe M.113 kết hợp với bộ binh tiến công lên. Đồng chí phân công 2 chiến sĩ tập trung diệt bộ binh, còn đồng chí chuẩn bị lựu đạn đánh xe. Chờ cho chiếc M.113 đi đầu tiến sát tới bờ hào, đồng chí nhảy vọt lên, ném thủ pháo. Chiếc xe đi đầu bốc cháy ngay tại chỗ. Chiếc đi sau vội lủi lại, vừa bắn xối xả vào chỗ đồng chí, vừa tháo lui. Tuy đã bị thương nặng, Nguyễn Văn Đừng vẫn gọi 2 chiến sĩ lại, dặn thêm một lần nữa: Quyết giữ vững trận địa… Đồng chí đã hy sinh ngay trên mép chiến hào, bên xác chiếc M.113 còn đang bốc cháy.

Trong chiến tháng Ấp Bâc, riêng tiểu đội đồng chí đã diệt 3 xe M.113, bắn bị thương 1 chiếc khác, cùng đơn vị bắn rơi 5 máy bay lên thẳng, bắn bị thương 9 chiếc, diệt 470 tên địch. Nhân dân Ấp Bắc đã tặng tiểu đội đồng chí danh hiệu “Tiểu đội gang thép!”.

Nguyễn Văn Đừng đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất và là Chiến sĩ thi đua của quân khu.

Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Đừng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Võ Như Hưng (tức Võ Như Trích) sinh ngày 5 tháng 5 năm 1929, dân tộc Kinh quê ở xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 5 tháng 5 năm 1952. Khi hy sinh đồng chí là trung đội trưởng bộ đội đặc công tỉnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lên 10 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ, gia đình lại là cơ sở tốt của ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, được cách mạng giáo dục, Võ Như Hưng sớm giác ngộ, nhiều lần đã tình nguyện tòng quân, nhưng vì vóc người nhỏ bé nên không trúng tuyển. Mãi tới năm 1952, đồng chí mới được nhận vào bộ đội, làm chiến sĩ của trung đoàn 303, đã cùng đồng đội chiến đấu trên các chiến trường Quảng Nam, Tây Nguyên… và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Sau ngày hòa bình lập lại, đồng chí tập kết ra Bắc, đến năm 1960, lại tình nguyện trở về miền Nam chiến đấu. Võ Như Hưng là một trong những dũng sĩ xuất sầc nhất trong 7 dũng sĩ Điện Ngọc.

Cuối năm 1960, trong trận đánh bốt 6 (vùng Điện Bàn), trước giờ xuất phát mặc dù vừa mới qua cơn sốt nặng, được cấp trên cho nghỉ, nhưng Võ Như Hưng vẫn kiên quyết xin đi bằng được. Giữa lúc tình hình chiến đấu đang diễn biến khẩn trương, đồng chí bị một mảnh pháo phạt ngang làm gãy xương tay trái, nhưng vẫn nén đau cùng đồng đội anh dũng tiêu diệt địch cho tới lúc ta làm chủ hoàn toàn trận địa.

Năm 1961, trong trận đánh Nam Thành – một trung tâm huấn luyện biệt kích của địch ở Hòa Cam, cách sân bay Đà Nẵng chừng 500 mét, địch bố phòng rất cẩn mật – đồng chí được giao nhiệm vụ phụ trách mũi tiến công chủ yếu.Vừa bước vào chiến đấu, vì nghe nhầm lệnh, đại bộ phận quân ta đều rút ra, riêng mũi của Võ Như Hưng do nhận lệnh đúng, vẫn xông thẳng vào trung tâm, diệt sở chỉ huy bọn cố vấn Mỹ. Giải quyết xong mục tiêu, biết tin cả đơn vị đã lui quân, đồng chí bình tĩnh xử trí, tổ chức cho anh em yểm hộ nhau rút từng bộ phận, dù ít người, vẫn thu 12 súng và dẫn 9 tù binh về đơn vị an toàn.

Ngày 26 tháng 4 năm 1962, tiểu đội của Võ Như Hưng nhận nhiệm vụ thọc sâu vào lòng địch quấy phá, hỗ trợ cho đợt “phá ấp chiến lược, giải phóng thêm dân, thêm đất” do tỉnh phát động. Tiểu đội đã đi suốt từ vùng Ông Nổi, qua đồn Gò Đá, tới Quảng Lăng, Quảng Hậu, thôn 4 Điện Bàn, về đến Cẩm Sa thì bị 1 tiểu đoàn địch bao vây; và trận đánh nổi tiếng của “Bảy dũng sĩ Điện Ngọc” quanh chiếc giếng cạn đã diễn ra ở đây. Các chiến sĩ thề với nhau: “Quyết chiến đấu tiêu diệt nhiều địch, không chịu để rơi vào tay giặc”. Suốt một ngày trời, cả tiểu đoàn địch mở hàng chục đợt xung phong, nhưng lần nào cũng bị đánh bật ra. Cuộc chiến đấu rất không cân sức này càng về chiều càng hết sức gay go quvết liệt. Nhiều lần địch liều chết ùa tới gần, tung lựu đạn xuống lòng giếng; anh em liền chộp lấy, ném trả lại. Tuy nhiên, cũng có quả nổ ngay trong giếng, làm một số hy sinh và hầu hết cả tiểu đội đều đã bị thương.

Trời tối dần, 4 chiến sĩ còn lại quyết mở đường máu, vượt vòng vây. Sau một đợt tập trung lực lượng, tổ chức xung phong mãnh liệt, bất ngờ, các đồng chí đã rút ra an toàn. Đi được một đoạn, kiểm tra lại thấy còn thiếu một chiến sĩ bị thương nặng không theo kịp đồng đội, đồng chí quyết định quay lại tìm bằng được và dìu bạn vượt qua những chặng đường đầy gian khổ, hiểm nguy, ngày ẩn nấp, đêm lại tiếp tục đi, đưa đồng đội vượt vành đai giặc về đơn vị an toàn.

Trong trận chống càn ngày 20 tháng 12 năm 1963, khi 2 đại đội địch đã lọt vào trận địa ta, Võ Như Hưng cho nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch hoảng hốt, tán loạn. Quân ta lập tức xung phong, truy kích đến cùng. Trên đường đuổi giặc Võ Như Hưng bị thương nặng ở bụng, đạn xuyên từ phải qua trái, làm đứt nhiều khúc ruột. Mặc dù được đưa đi bệnh viện kịp thời, và đã được tận tình cứu chữa, song vết thương quá nặng, không thể nào cứu nổi. Trên giường bệnh, tới giây phút cuối cùng, đồng chí vẫn kiên trì chịu đựng không hề rên la, luôn luôn lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ và thắng lợi của cách mạng.

Ngày 5 tháng 5 năm 1965, đồng chí Võ Như Hưng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Nguyễn Viết Khái (tức Nguyễn Văn Huôi) sinh năm 1940 dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Hương Tây, huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải, nhập ngũ tháng 12 năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là trung đội phó trung đội 3, đại đội Quyết Thắng, tiểu đoàn U Minh 2, tỉnh Cà Mau, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1954, Nguyễn Viết Khái làm liên lạc của xã. sau chuyển sang công tác thanh niên, tới năm 1961 chính thức gia nhập du kích, làm ấp đội trưởng, sang năm 1962 được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ lực lượng du kích của xã.

Suốt quá trình hoạt động, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm, bị địch hăm dọa nhiều lần, Nguyễn Viết Khái vẫn luôn luôn vững vàng, trung thành với Đảng, với cách mạng, tích cực xây dựng phong trào, xây dựng cơ sở. Đặc biệt trong chiến đấu, đồng chí rất bình tĩnh, gan dạ, lập nhiều chiến công xuất sắc, đã tham gia trên 50 trận đánh với “nhiều cách đánh linh hoạt, táo bạo, diệt hàng trăm địch, bắn rơi 4 máv bay lên thẳng, là một trong số những dũng sĩ diệt Mỹ đầu tiên tham gia đánh bại chiến thuật “trực thăng vận” của địch ở vùng này.

Năm 1962, bọn địch ở chi khu Bình Hưng tập trung 600 quân, chia làm 3 cánh, càn vào vùng giải phóng Tân Hưng Tây, định bất ngờ đánh úp cơ quan chỉ huy xã, diệt lực lượng du kích, cướp của cải của nhân dân rồi lùa dân vào ấp chiến lược. Trước tình thế bất ngờ đó, Nguyễn Viết Khái đã chỉ huy một tổ chiến đấu chặn đánh ghìm chân địch suốt từ nửa đêm hôm trước đến hết ngày hôm sau, bảo vệ cho cán bộ rút ra ngoài an toàn, vì bị thiệt hại nặng, địch đã buộc phải rút quân bỏ dở cuộc càn.

Ngày 20 tháng 12 năm 1962, địch dùng 40 máy bay các loại bất ngờ đổ quân xuống nhiều địa điểm hòng bao vây, tiêu diệt lực lượng du kích. Đồng chí dẫn đầu một tổ chiến đấu luồn lách khắp nơi, tìm cách đánh địch. Trong lúc đang thi hành nhiệm vụ, vì bị địch phát hiện tổ chiến đấu Nguyễn Viết Khái sa vào vòng vây của chúng. Lực lượng quá chênh lệch (1 đánh với 100), song các đồng chí cơ động chiến đấu rất linh hoạt, địch không làm gì được, càng đánh kéo dài, địch càng bị tiêu hao lực lượng, cả 5 lần địch tổ chức xung phong đều thất bại, chúng phải lủi ra xa, gọi máy bay đến ném bom và xin chi viện thêm quân. Sau 1 giờ bắn phá và ném bom dũ dội, một đoàn máy bay lên thẳng ào tới, đổ quân. Bằng 8 phát đạn tiểu liên, đồng chí đã bắn trúng 4 chiếc, 2 chiếc bốc cháy tại chỗ, 2 chiếc kia cố bay ra tới kênh 5 và khu vực Ông Xe thì rơi nốt. Hơn 60 tên địch trong 4 chiếc máy bay đều tan xác. Số máy bay lên thẳng còn lại hốt hoảng bay lên cao rồi cút thẳng.

Sau chiến thắng này, đồng chí được quân khu cử đi học, rồi về phụ trách trung đội phó ở đại đội Quyết Thắng bộ đội địa phương tỉnh Cà Mau. Trong lần tiến công đồn Văn Cái Tây (tháng 10 năm 1963) giữa lúc trận đánh đang gay go thì trung đội trưởng hy sinh. Đồng chí đang phụ trách lực lượng dự bị ở bên ngoài, nghe tin đó, liền vào tiếp tục chỉ huy trung đội chiến đấu và dẫn đầu đội hình đơn vị xung phong vào trung tâm đồn địch. Trận đánh sắp kết thúc thì đồng chí bị trúng đạn và đã anh dũng hy sinh.

Nguyễn Viết Khái là một cán bộ gương mẫu về mọi mặt, chiến đấu anh dũng, có hiệu suất cao, sống khiêm tốn, giản dị, trung thực, thật thà, được cấp trên tin cậy, đồng đội và nhân dân quý mến, tin yêu.

Đồng chí đã được thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh và quân khu.

Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Viết Khái được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương từ năm 1958, nhập ngũ tháng 11 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là cán bộ ban chỉ huy quân sự huvện Mỏ Cày, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống yêu nước (cha, anh đều đi hoạt động cách mạng, gỉa đình là cơ sở nuôi cán bộ bí mật), Tạ Thị Kiều sớm được giác ngộ, căm thù giặc Mỹ và bè lũ tay sai đàn áp nhân dân, chia cầt đất nước, đổng chí đã tích cực, hăng hái hoạt động và trở thành người cán bộ nòng cốt trong phong trào cách mạng ở địa phương. Đồng chí đã tổ chức và tham gia 107 lần đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, bắn bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Trong chiến đấu, Tạ Thị Kiều luôn luôn bình tĩnh, dũng cảm, chỉ huy vững vàng, gan dạ và mưu trí.

Tháng 1 năm 1960, địch tăng cường củng cố khu trù mật Thành Thới để kìm kẹp nhân dân và đánh phá cơ sở của ta. Được phân công gây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, đồng chí đã kiên trì vận động nhân dân và xung phong đi đầu trong các cuộc đấu tranh trực diện với địch, khéo léo làm công tác binh, địch vận, tranh thủ người tốt, phân hóa, cô lập bọn ác ôn ngoan cố, tích cực phát triển lực lượng nòng cốt trong hàng ngủ địch. Qua gần 7 tháng, Tạ Thị Kiều đã tổ chức được 107 cuộc đấu tranh chính trị, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 lính ngụy về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động tốt, gây cho địch một số thiệt hại và hạn chế được tác hại do hành động tội ác của chúng.

Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức một tiểu đội du kích, thường xuyên hoạt động: rải truyền đơn, treo băng cờ, khẩu hiệu, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá đường, đốt chòi canh, cảnh cáo, diệt ác ôn… khiến bọn địch ngày càng hoang mang, nao núng.

Trong trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít, nhưng do đồng chí đã xây dựng được cơ sở và nắm địch tốt, mưu trí tìm nhiều cách phân tán và đánh lừa địch, nên tạo điều kiện cho đồng đội xung phong lấy gọn bốt, quân ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp.

Trong trận đánh bốt Kinh Quang, Tạ Thị Kiều đã vạch ra kế hoạch và lại trực tiếp thực hiện, dụ bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn.

Tháng 10 năm 1961, đồng chí chỉ huy đội du kích phục kích đánh xe địch trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe ngay khi địch mới lọt vào trận địa. Lực lượng địch còn đông, ỷ thế mạnh, dùng hỏa lực áp đảo, bắn mạnh vào chỗ du kích ta bố trí, đồng thời bọn lính trên xe đi sau cũng triển khai, đánh trả ta quyết liệt. Xét tình thế bất lợi, đồng chí đã bình tĩnh một mình ở lại cơ động, chiến đấu, chặn địch cho anh em rút hết, sau đó, khi rút còn đưa được cả thương binh ra an toàn.

Tạ Thị Kiều luôn luôn gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi công tác, tận tình gắn bó với nhân dân, doàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng đội, được quần chúng mến phục, tin yêu.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì và 2 năm liền (1963 – 1964) là Chiến sĩ thi đua của quân khu.

Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Tạ Thị Kiều được Uy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. Hương Quỳnh- sưu tầm

Tám Nữ Anh Hùng Trong Thế Chiến Thứ Hai Bạn Nên Biết

Khi nghĩ về một hành động anh hùng thời chiến thì bạn hình dung ra một người đàn ông hay một người phụ nữ có hành động dũng cảm?

Quá thường xuyên vai trò của phụ nữ trong các cuộc xung đột không được công nhận, vì vậy để kỷ niệm 75 năm kết thúc Thế chiến thứ Hai năm nay (chiến tranh kết thúc ở châu Âu vào ngày 8/5), chúng tôi tưởng niệm tám phụ nữ có bản lĩnh và thành tích, khiến họ khác biệt với hàng triệu người khác, đã thể hiện lòng can đảm trong cuộc xung đột tàn khốc.

Cheng Benhua: Đón cái chết với nụ cười

Cheng Benhua là một nữ anh hùng kháng chiến đã chiến đấu với người Nhật sau khi họ xâm chiếm Trung Quốc vào năm 1937.

Một bức ảnh của cô được chụp ngay trước khi cô bị đánh đến chết đã trở thành một hình ảnh mang tính biểu tượng của sự bất chấp không sợ hãi.

Bức ảnh này được chụp bởi một nhiếp ảnh gia người Nhật đã ghi lại những khoảnh khắc cuối cùng của cô, sau khi cô bị bắt trong khi chiến đấu và bị giam cầm.

Cô đã bị những kẻ bắt cóc hãm hiếp nhiều lần, nhưng vẫn không chịu khuất phục.

Trong hình, trông cô như đang cười khi đối mặt với cái chết, hai tay khoanh trước ngực, ngẩng đầu lên để bắt gặp ánh mắt của ống kính không nao núng.

Tư thế của cô được tưởng niệm bởi một bức tượng cao năm mét ở Nam Kinh, nơi là một trong những vụ thảm sát tồi tệ nhất của cuộc chiến, khi có tới 300.000 đàn ông, phụ nữ và trẻ em Trung Quốc bị quân đội Nhật tàn sát.

Khi qua đời năm 1938, cô 24 tuổi. Cô mất đi một năm trước khi chiến tranh đến châu Âu, nhưng một năm sau khi chiến tranh đã đến với người Trung Quốc.

Cheng Benhua có “tính cách nổi bật nhất, gây ấn tượng nhất và đáng được tôn trọng nhất” trong số hàng triệu người đã thiệt mạng, nhà nghiên cứu lịch sử và bảo tàng Trung Quốc, ông Fan Jianchuan nói với tờ Daily Daily năm 2013.

Noor Inayat Khan: Công chúa gián điệp

Là công chúa Ấn Độ và một điệp viên người Anh, Noor Inayat Khan là hậu duệ trực tiếp của Tipu Sultan, nhà cai trị Hồi giáo thế kỷ 18 của Mysore.

Con gái của một người cha Ấn Độ – một giáo viên Sufi – và một bà mẹ người Mỹ, cô sinh ra ở Moscow và học tại Sorbonne ở Paris.

Kỹ năng ngôn ngữ đã đưa cô đến một vị trí với Cơ quan Điều hành Đặc biệt Anh (SOE) – những điệp viên bí mật nhảy dù vào Pháp lúc đó bị chiếm đóng trong chiến tranh để phá vỡ các hoạt động của Đức Quốc xã với sự phá hoại, liên lạc với quân kháng chiến Pháp và theo dõi việc chuyển quân.

Cô làm việc như một nhân viên điều khiển máy phát thanh – người phụ nữ đầu tiên đảm nhận vai trò nguy hiểm này – và liên tục thay đổi địa điểm để tránh bị phát hiện.

Cuối cùng, cô đã bị cảnh sát Đức Quốc xã, Gestapo bắt giữ, thẩm vấn và tra tấn.

Cô đã tìm cách trốn thoát trong nhiều dịp khác nhau – một lần gần suýt nữa thoát đi được bằng các đi trên các mái nhà.

Sau mỗi lần tìm cách trốn thoát, các điều kiện bị giam cầm và thẩm vấn của cô ngày càng khắt khe, nhưng người ta tin rằng cô không bao giờ từ bỏ bất kỳ thông tin nào có giá trị của người Đức, người chỉ biết cô bằng mật danh Madeleine và thậm chí không biết rằng cô là người Ấn Độ.

Vào tháng 9 năm 1944, Inayat Khan và ba nữ đặc vụ SOE khác được chuyển đến trại tập trung Dachau, nơi vào ngày 13/9, họ bị xử tử.

Vì lòng dũng cảm, sau khi chết Inayat Khan đã được truy tặng Huân chương George Cross của Anh và một Croix de Guerre của Pháp với một ngôi sao vàng. Cô cũng có một tượng đài về lòng dũng cảm của mình trong Gordon Square Gardens ở London.

“Noor Inayat Khan tiếp tục truyền cảm hứng cho đến tận ngày nay, không chỉ vì sự dũng cảm mẫu mực của cô ấy, mà cả những nguyên tắc mà cô ấy đại diện”, Shrabani Basu, tác giả của Spy Princess, The Life of Noor Inayat Khan, nói với BBC.

“Mặc dù cô ấy là người Sufi và tin vào bất bạo động, Noor Inayat Khan đã có sự hy sinh cao nhất – hy sinh mạng sống của mình – trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa phát xít.”

Lyudmila Pavlichenko: Nữ tử thần

Lyudmila Pavlichenko là một trong những tay súng bắn tỉa thành công nhất trong lịch sử, đã ghi nhận được 309 vụ giết lính Đức được xác nhận sau cuộc xâm lược của Đức Quốc xã vào Liên Xô năm 1941.

Hàng chục nạn nhân của cô chính là những tay súng bắn tỉa của phe kẻ thù, những người đã thua một trò chơi mèo vờn chuột với người phụ nữ khai thác được các cuộc bao vây Sevastapol và Odessa đã cho cô biệt danh là Nữ Thần Chết.

Lính bắn tỉa của Đức Quốc xã không thể bắn trúng được cô, nhưng Lyudmila Pavlichenko bị thương bởi một viên đạn súng cối và mặc dù đã hồi phục, cô được rút khỏi tiền tuyến và đưa vào làm việc bằng cách sử dụng tên tuổi của mình để hỗ trợ cho nỗ lực chiến tranh của Liên Xô.

Trong vai trò là một cô gái biểu tượng cho Hồng quân, cô đã đi khắp thế giới, gặp gỡ Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt trong quá trình này.

Mặc dù cô đã được trao giải Sao vàng của Anh hùng Liên Xô, nhưng sau đó cô đã hầu như bị xóa khỏi lịch sử.

“Thật đáng ngạc nhiên khi một tay súng bắn tỉa nữ có khả năng đặc biệt đã không được tôn vinh và tưởng niệm đúng cách sau khi cô ấy chết”, Iryna Slavinska, một nhà hoạt động bình đẳng giới tính và phát thanh viên nói với BBC.

“Nhưng câu chuyện của Liên Xô về Thế chiến thứ Hai tập trung vào hình ảnh của một người lính dũng cảm, một người đàn ông – chỉ cần nghĩ về tất cả các tượng đài được dựng lên cho các anh hùng chiến tranh và cho Người lính vô danh thì thấy. Phụ nữ không phải là một phần của câu chuyện đó.”

Nancy Wake: Con Chuột Bạch

Một nhân vật nổi trội trong nhiều phương diện, Nancy Wake nổi tiếng là một chiến binh nguy hiểm, một cô gái lẳng lơ và một người uống rượu không ngừng, cũng như một kẻ thù không thể tránh khỏi của Đức quốc xã.

Sinh ra ở New Zealand, nhưng lớn lên ở Úc, Nancy Wake chạy trốn khỏi trường vào năm 16 tuổi và có một công việc ở Pháp với tư cách là một nhà báo, công việc được báo cáo là cô tìm được bằng cách nói dối về khả năng viết bằng tiếng Ai Cập cổ đại.Ở đó, cô gặp và kết hôn với nhà công nghiệp người Pháp, Henri Fiocca, và đang sống ở Marseille khi người Đức xâm chiếm Pháp năm 1939.

Nancy Wake tham gia kháng chiến Pháp và hướng dẫn các phi công đồng minh trốn thoát đến nơi an toàn ở Tây Ban Nha. Khi mạng lưới của cô bị người Đức phản bội vào năm 1942, Wake đã trốn sang Anh qua Tây Ban Nha.

Fiocca ở lại và bị Đức quốc xã bắt, tra tấn và xử tử. Wake nhảy dù trở lại Pháp để bắt đầu công việc cho cơ quan Điều hành Hoạt động Đặc biệt của Anh (SOE).

Nancy Wake đã tham gia vào nhiều nhiệm vụ táo bạo – cô tuyên bố đã giết một lính gác Đức bằng tay không trong một lần. Cô nói trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình vào thập niên 1990: “Họ đã dạy cú chặt judo đáng kinh ngạc này ở SOE và tôi đã thực hành nó. Nhưng đây là lần duy nhất tôi sử dụng nó – và nó đã giết chết ông ấy”.

Sau khi các mã vô tuyến của đồng minh có giá trị bị mất trong chiến trận, Nancy Wade tình nguyện đạp xe 500 km trên lãnh thổ của kẻ thù để lấy thiết bị thay thế. Nancy Wade nói đã làm xong việc đó chỉ trong ba ngày.

Cô diện quần áo đẹp và hẹn hò với người Đức để lấy thông tin. “Một ít bột và một ít đồ uống trên đường, và tôi sẽ đi qua trạm kiểm soát của họ và nháy mắt và nói, ‘Bạn có muốn tìm kiếm tôi không?’ Chúa ơi, lúc đó tôi là một cô gái thật lẳng lơ,” cô nói với tờ báo Úc.

Cô đã nhiều lần suýt chết trong chiến tranh nhưng luôn tìm cách trốn tránh những người theo đuổi cô, theo người viết tiểu sử của cô, Peter FitzSimons.

Khả năng lảng tránh của cô khiến người Đức gọi cô là Chuột Bạch – cũng là tên cuốn tự truyện của cô.

Nancy Wake nhận được một loạt các giải thưởng sau chiến tranh, và qua đời vào ngày 7/8/2011, ở tuổi 98, ở London. Cô yêu cầu tro cốt của mình được rải rác ở Pháp.

Jane Vialle: Reporter, Phóng viên, gián điệp, chính trị gia

Jane Vialle sinh ra ở Cộng hòa Congo nhưng chuyển đến Paris khi còn nhỏ và đang làm báo khi Thế chiến thứ hai nổ ra.

Jane Vialle rời Paris và trở thành một đặc vụ tình báo cho cuộc kháng chiến của Pháp ở miền Nam đất nước, mặc dù lúc đó chưa bị quân Đức chiếm đóng chính thức, đã bị chế độ bù nhìn của Vichy cai trị.

Bà thu thập thông tin tình báo về các phong trào của quân đội Đức Quốc xã và sau đó huyển tiếp cho các đồng minh.

Kẻ thù bắt được bà vào tháng 1/1943 và cô bị buộc tội phản quốc.

Mặc dù vậy, bí mật của Jane Vialle vẫn an toàn với chính quyền, vì bà đã mã hóa dữ liệu của mình rất tốt nên không thể giải mã được.

Vialle được gửi đầu tiên đến một trại tập trung và sau đó là nhà tù của phụ nữ ở Marseille, nhưng cô ấy đã trốn thoát hoặc được thả ra và sống sót sau chiến tranh.

Bà được bầu vào Thượng viện Pháp năm 1947.

Ngôi sao điện ảnh người Áo đã có một sự nghiệp lẫy lừng mang lại danh tiếng cho bà, một ngôi sao trên con đường danh vọng Hollywood và sáu người chồng.

Tên thật là Hedwig Eva Maria Kiesler, bà sinh ra trong một gia đình Do Thái giàu có ở Vienna, bà kết hôn lần đầu tiên với một nhà công nghiệp buôn bán vũ khí, người đã cau mày với sự nghiệp diễn xuất non trẻ của mình và bắt buộc cô phải làm tiếp viên cho bạn bè và đồng nghiệp của mình, bao gồm cả Đức quốc xã.

Hedy Lamarr không thể tuân thủ điều này, bí mật trốn đi, trước tiên đến Paris và sau đó đến London, nơi cô gặp Louis B. Mayer, người đứng đầu MGM Studios huyền thoại.

Ông mời bà ký một hợp đồng với Hollywood và bắt đầu quảng bá bà là “người phụ nữ đẹp nhất thế giới”.

Thành công của cô trong hơn 30 bộ phim rất đáng chú ý, nhưng hầu như không có gì gọi là anh hùng. Điều giúp cô có được một vị trí trong danh sách này là nghề phụ của bà – với tư cách là một nhà phát minh.

Hedy Lamarr đã phát triển một hệ thống dẫn đường cho ngư lôi đồng minh có thể chống lại mối đe dọa gây nhiễu bởi kẻ thù bằng cách chuyển đổi tần số.

Hải quân Hoa Kỳ đã không tận dụng sáng chế của bà, nhưng các yếu tố của các phát minh tiên phong của bà có thể được nhìn thấy trong công nghệ Bluetooth và WiFi ngày nay.

Mya Yi: Thanh kiếm và độc dược

Cuộc đấu tranh của Mya Yi bắt đầu ngay cả trước khi người Nhật xâm chiếm Miến Điện trong Thế chiến thứ Hai.

Mya Yi là một nhà vận động mạnh mẽ cho nền độc lập của đất nước, chống lại chính quyền thực dân Anh.

Cô gia nhập lực lượng kháng chiến trong Thế chiến thứ Hai và luôn mang theo một thanh kiếm và một chai thuốc độc để tự vệ.

Vào năm 1944, cô đi bộ qua lãnh thổ và các dãy núi do Ấn Độ nắm giữ để tiếp tục cuộc chiến chống Nhật.

Cô băng bó vết thương bằng dải xà rông trên đường đi, và từ chối lời đề nghị mang cô lên của đàn ông.

Ở Ấn Độ, cô đã đóng góp cho những chuyến thả truyền đơn xuống Miến Điện kể chi tiết về việc người Nhật đối xử tệ với dân chúng như thế nào.

Mặc dù Mya Yi dự định trở về Miến Điện cùng chồng sau khi sinh con trai đầu lòng – cô đã được đào tạo thành lính nhảy dù – cô đã nhường chỗ cho một chiến binh khác và chỉ trở về vào tháng 10 năm 1945, sau khi chiến tranh kết thúc.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của cô vẫn tiếp tục, khi cô đấu tranh giành độc lập và sau đó chống lại chế độ quân chủ của đất nước.

Rasuna Said là một nhân vật quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Indonesia, và kẻ thù đối với cô không phải là người Nhật, mà là thực dân Hà Lan của Indonesia.

Rasuna Said hoạt động chính trị khi còn rất trẻ, và thành lập một đảng chính trị – Hiệp hội Hồi giáo Indonesia (PERMI) – ở tuổi đôi mươi, dựa trên tôn giáo và quốc tịch.

Theo một nhà viết tiểu sử, Rasuna Said là một diễn giả có bài phát biểu “như sét đánh”, sự can đảm của cô trong việc chỉ trích chính quyền thực dân Hà Lan đã mang lại cho cô biệt danh Lioness.

Người Hà Lan thường xuyên dừng phát thanh các bài phát biểu của cô, bắt cô tại một sự kiện giam, và cầm cô trong mười bốn tháng.

Khi người Nhật xâm chiếm quần đảo vào năm 1942, Rasuna Said đã tham gia một tổ chức thân Nhật, nhưng đã sử dụng tổ chức này để tiếp tục hoạt động đòi độc lập của mình.

Với Indonesia, cuộc chiến không kết thúc khi người Nhật bị đánh bại. Người Hà Lan quay trở lại để cố gắng tái lập thẩm quyền của họ, lúc đầu với sự giúp đỡ của Anh, và một cuộc xung đột kéo dài bốn năm tàn khốc bắt đầu.

Nó kết thúc với việc người Hà Lan công nhận chủ quyền của Indonesia vào năm 1949, và vai trò của Rasuna Said trong việc này được tưởng niệm khi tên của cô tô điểm cho một trong những con đường chính ở thủ đô Jakarta.

Những Dị Tướng Tiêu Biểu Nhận Biết Một Thần Kê P2

Đoãn lưỡi thần kê di tướng là những chú gà sở hữu chiếc lưỡi ngắn và rụt vào sâu bên trong như lưỡi rùa. Chính cái lưỡi ngắn tạo nên sự khác biệt trong tiếng gáy nên rất dễ nhận biết gà đoãn lưỡi thần kê. Chúng gáy chỉ một hai tiếng rồi tậm tịt.

Thần kê tử mị hay còn gọi là gà giả chết. Là những chú gà có dáng ngủ giống như đã chết. Hai chân duỗi ra, cánh cúp sát vào, đầu rục xuống hệt như bị trúng gió. Vì dáng ngủ đặc biệt này mà nhiều chú gà đã khiến chủ nhân của chúng nhiều phen hú hồn khi đi kiểm tra trong đêm. Những con gà tử mị được xếp vào dạng thần kê quý hiếm ít người sở hữu được.

Những chú gà cùng một trứng nở ra được gọi là thần kê song sinh. Hai chú gà giống y đúc và có sự liên kết mật thiết với nhau. Nếu trong trận đấu mà chỉ cần một con nghe thấy tiếng kêu của con còn lại. Thì sinh lực sẽ trở nên mạnh mẽ hơn và lì đòn hơn như được tiếp thêm sức mạnh. Những chú gà thần kê song sinh cũng thuộc vào top thần kê quý hiếm không dễ bắt gặp.

Lão kê thần đồng là ám chỉ những chú gà già trước tuổi. Chúng có cách đánh và lối đánh đầy kinh nghiệm như một chiến kê thực thụ. Nên được đánh giá rất cao. Lợi thế của chúng nằm ở chỗ là gà tơ. Nhưng lại vượt trội đối thủ về tài năng kinh nghiệm.

Chúng ta thường bắt gặp các chú gà có 2 cựa. Hoặc đặc biệt hơn là gà 9 cựa như trong truyền thuyết vua Hùng. Tuy nhiên có những chú gà xuất hiện 6 cựa trên một chân. Đó là đặc điểm nhận diện gà 6 cựa thần kê.

Tuy không sở hữu sức mạnh và vũ khí hạ gục đối thủ. Nhưng những chú gà có 2 phao câu cũng được xếp vào dòng thần kê. Bộ lông của chúng lúc nào cũng bóng mượt khi mang trên người 2 bình dầu.

Vị trí diều được hoán đổi từ bên trái qua bên phải. Sẽ giúp chiến kê chịu đòn và né đòn tốt hơn những chú gà bình thường.

Sỡ hữu 6 cựa trên một chân thì việc hạ gục đối thủ sẽ trở nên dễ dàng hơn.

Thần kê lông voi Thần kê dị tướng

Những con gà có sợi lông to cứng tròn đều như sợi kẽm sẽ được xếp vào hàng thần kê và được săn đón rất nhiêu. Dù chúng cũng không có ưu thế gì vượt trội về khả năng chiến đấu. Và tất cả gà chiến tại đều thuộc hàng dị tướng. Những chú gà xếp vào hạng thần kê thì không dễ gì sở hữu được. Chủ nhân nó chỉ muốn giữ lại và nhân giống, họ sẽ không để chúng ra đi trừ khi với một cái giá rất rất cao.

Quan Niệm Về Một “Chiến Kê”

Con gà nòi được gọi là “chiến kê” khi nó có đủ 5 đức tính của một vị tướng: Văn, Võ, Dũng, Tín, Nhân.

– Trên đầu có mồng như đội mũ của quan Văn. 

– Dưới cán (cẳng gà) có đôi cựa siêu đạo là Võ.

– Gặp địch thủ xông vào chí tử bất thoái như gà ô

mắt ếch, đá chết không chạy là Dũng.

– Gà nòi gáy rất đúng giờ, ngắn gọn “âm minh đoản”, là Tín.

– Khi có miếng ăn, biết “túc tác” chia sẻ cùng bầy là Nhân.

Người ta nói “chó giống cha, gà giống mẹ”. Gà nòi theo hệ thống mẫu hệ. Do đó, muốn có danh tiếng, ngày xưa các sư kê phải đi từ con mái gốc, mái nền. Gà mẹ phải anh thư, cản bởi con cha trên một tuổi, từng là chiến tướng, thì nay ? đàn con mới được đôi con “hổ tứ”. Lứa trứng so không ai cho ấp, phải đợi đợt hai. Trong bầy con không phải tất cả đều là chiến tướng. Do đó, các sư kê phải biết chọn lọc để nuôi. Số còn lại trở thành gà thịt. Sự tuyển chọn qua nhiều đợt. Thông thường là khi gà được 3 tháng tuổi tới 6 tháng, gà bắt đầu gáy. Bắt đầu cho cổ đợt đầu tiên để xem thế đá và sự khôn lanh, ra đòn, trả đòn. Người ta bịt cựa (nếu đã nhú dài), xổ với gà tơ đồng chạng hay với gà tre, gà tàu. Xổ ba hiệp, mỗi hiệp độ 10 phút. Lần này cũng lựa chọn ra được những con gà có nhiều triển vọng.

Gà có nhiều thể đá. Có con độc chiếu sát thủ, có con ra rất nhiều đòn. Đây là những thế chính của chiến kê:

– Đòn nạp, xạ: ban đầu gà còn sức bay cao, tung song phi. Đến hiệp thứ ba trở đi, con nào còn bay nạp xạ được nuôi dưỡng đúng mức. Đòn nạp chính xác chỉ thấy ở gà có xương lườn ngay thẳng và hai xương ghim không quá hở rộng. Xương ghim là hai xương gần hậu môn. Bế con gà lên, nếu xương ghim không rộng hơn ngón tay út là vừa. Hai đầu xương ghim phải dài bằng nhau. Cái dài, cái ngắn trước sau gì gà cũng bị đui mắt.

– Hồi mã thương: đây là gà thế, khôn lanh. Đang đá tự nhiên bỏ chạy, địch thủ rượt theo, bất thần quay lại đá thốc lên. Đòn này rất độc, sát thủ nếu gà đâm giỏi.

– Đá vỉa: chui vào cánh gà địch và cứ giữ thế đó, gọi là vỉa tối. Bằng không, chui ra, chui vào khi thời cơ đến, gọi là vỉa sáng. Thế này có thể đá gãy cánh đối phương.

– Đá sỏ, mé: cắn mồng, mỏ rồi tung đòn.

– Đá mã kỵ: bay cao đáp xuống đá vào lưng. Nếu trúng cựa sâu sẽ sát thủ vì trúng phổi.

– Ngoài ra tuỳ theo vị trí đá, người ta nói đá long. đá hang cua, đá khai vựa lúa (bầu diều), đá kèo trên, đá kèo dưới, đá lấn (đá áp thô). Có gà đá một cú gọi là độc cước. Chiến kê đá có nét ra liền cước…

Chọn gà theo “kê tướng”:

– Mỏ: vừa, hơi cong, chắn chắn. Chiến kê dùng mỏ cắn địch thủ để tung đòn. Gà ô, chân trắng mỏ trắng “mẹ mắng cũng mua” thuộc dòng chiến tướng. Gà dở, “đâu đầu nhìn miệng” là gà nát gối, liên tu

– Mồng: gọn như mồng trích, mồng dâu. Tránh mồng xệ, mồng lá. Mồng cối, theo người xưa là không may độ.

– Đầu gà: phải cân đối với cần. Lớn hơn cần quá rõ là gà chậm chạp, đợi địch ra đòn hai ba cái mới trả lại đòn.

– Mắt gà: màu thau, màu bạc, mắt ốc cau có tia máu là giống gà tốt. Mắt lanh, mí mắt mỏng. Gà ô mỏ xanh, mắt ếch, đá chết không chạy.

– Mặt gà: chữ điền là gà gan lì. Mặt tam giác là gà lanh, né giỏi, trả đòn chớp nhoáng.

– Gò má: bằng phẳng từ đầu mỏ, nhô cao ở mí mắt dưới và mí trên cho thấy mắt gà sâu, bặm trợn, lì đòn. Nhưng mắt đừng quá sâu, gà chậm ra đòn.

– Lưỡi gà: hai lưỡi (song thiệt), lưỡi đen (hắc thiệt), lưỡi ngắn (đoản thiệt) là những “linh kê”, dị tướng.

– Cổ gà: tròn hay vuông đều được. Cần nhất là xương cổ phải liên lạc, sát nhau. Tránh cổ cò. Ở dưới cổ có miếng thịt dư gọi là hầu bò, chính gốc nòi, gà 1 đòn, chịu đựng nước khuya. Tích gà phải đỏ tươi, có vết trắng là đã lai. Muốn thử cổ gà, ta lấy tay đè cần sẽ lượng được độ cứng cáp của cổ gà.

– Ức gà nở nang. Bầu diều nằm bên trái (trữ thực tả), dị tướng nên được xếp hàng “linh kê”

Cánh gà: 18 lông thật sát, chồng lên nhau. Cánh xếp ôm chặt lưng, dài gần tới đuôi. Nếu có một lông trắng tuyền, hay có một “lông tượng” cuốn xoắn lại, cứng. Nếu là mái nòi có lông tượng, bầy con phần lớn đều có những vảy cực tốt như án thiên, phủ địa, đại giáp, nghịch lân …

– Lưng gà không gù, thế đứng giọt mưa hay ưỡn ngực ứng thiên là gà chuyên đá trên.

– Lông mã: nhỏ, nhiều, dài gần tới gối là giống tốt. Nên lựa chọn lông mã một màu.

– Phao câu: to; hai bình dầu thuộc dị tướng. Phao câu lớn sẽ cho lông đuôi dài, cứng. Gà đứng vững, dùng đuôi để đưa ra đòn.

– Chân gà: lưỡng túc tam phân. Đùi tròn, thon không tốt bằng đùi dẹp, nở nang. Căng nhỏ, tròn hoặc vuông như cạnh thước. Cân nhất phải thon. không có mỡ.

– Ngón: nhỏ, thon. Ngón giữa hay còn gọi là ngón chúa, ngón ngọ phải từ 19 vảy. Hai ngón nội. ngoai từ 14 vảy. Ngón sau gọi là ngón thời phải từ 7 vảy đổ lên.

– Móng: dài, cong như móng rồng là chiến tướng thuộc loại “ế độ”, đá đâu thắng đó, không ai dám cáp. Nên nhớ, ngón thới cũng đâm. 

Về sắc lông theo ngũ hành, có người xem. nhưng cũng có kẻ coi đó chỉ là chuyện nhỏ. Gà ô chân trắng, mỏ trắng thuộc dòng chiến tướng. Gà xám lông khô, cẳng như gà chết không phải tay vừa. Gà nhạn lông trắng, chân chì, chơi chi giống đó. Đòn đá không lên, nhát, chạy bậy. Gà chuối có màu đẹp, các sư kê không chuộng vì cho rằng không may độ.

Về vảy vi, hai hàng vảy trước là hàng thành và hàng nội nên mỏng, trong sáng, đường viền nhỏ. Vảy xếp theo hình chữ “nhân” rất tốt, hay úp lên nhau như cái máng xối cũng nên chọn lựa.

Ở phía sau cẳng gà là hàng hậu, phải no tròn, chạy dài từ gối xuống tới gần cựa, gọi là “gà no hậu”. Không nên chọn lựa gà có một vảy hậu nứt ra, “bể hậu” hay “khai hậu”; con này sớm muộn gì cũng tử trận. Gà thất hậu, vảy rời rạc không bền. Tuy nhiên nếu có “khai hậu” mà phía trước hàng ngoại cũng có một váy bị xẻ đôi, gọi là “bể biên”, lại thuộc là gà chiến: “bể biên, khai hậu là cậu gà nòi”. Hàng độ từ cựa đi lên phải thật sát nhau, càng lên cao càng nhỏ lại. Hàng độ chạy song song với hàng kẽm, trên to dưới bé. Độ có màu như son là tuyệt vời. Đếm được bao nhiêu vảy độ là gà có triển vọng bấy nhiêu. Từ ngón thới (ngón sau), có hàng độ dưới. Chạy lên cao, bao lấy cựa, gọi là “hoa đăng thới”. Gà này có thêm cặp cựa song đao, đóng sát ngón thới, hễ nó nhảy lên là đâm. Giữa hàng vảy ngoại và hàng hậu có hai, ba hàng biên màu son. Hàng biên tốt như “thập biên”, (chữ thập), “liên giáp biên”…

Quan Niệm Về Một “Chiến Kê”

Con gà nòi được gọi là “chiến kê” khi nó có đủ 5 đức tính của một vị tướng: Văn, Võ, Dũng, Tín, Nhân.

– Trên đầu có mồng như đội mũ của quan Văn.

– Dưới cán (cẳng gà) có đôi cựa siêu đạo là Võ.

– Gặp địch thủ xông vào chí tử bất thoái như gà ô

mắt ếch, đá chết không chạy là Dũng.

– Gà nòi gáy rất đúng giờ, ngắn gọn “âm minh đoản”, là Tín.

– Khi có miếng ăn, biết “túc tác” chia sẻ cùng bầy là Nhân.

Người ta nói “chó giống cha, gà giống mẹ”. Gà nòi theo hệ thống mẫu hệ. Do đó, muốn có danh tiếng, ngày xưa các sư kê phải đi từ con mái gốc, mái nền. Gà mẹ phải anh thư, cản bởi con cha trên một tuổi, từng là chiến tướng, thì nay ? đàn con mới được đôi con “hổ tứ”. Lứa trứng so không ai cho ấp, phải đợi đợt hai. Trong bầy con không phải tất cả đều là chiến tướng. Do đó, các sư kê phải biết chọn lọc để nuôi. Số còn lại trở thành gà thịt. Sự tuyển chọn qua nhiều đợt. Thông thường là khi gà được 3 tháng tuổi tới 6 tháng, gà bắt đầu gáy. Bắt đầu cho cổ đợt đầu tiên để xem thế đá và sự khôn lanh, ra đòn, trả đòn. Người ta bịt cựa (nếu đã nhú dài), xổ với gà tơ đồng chạng hay với gà tre, gà tàu. Xổ ba hiệp, mỗi hiệp độ 10 phút. Lần này cũng lựa chọn ra được những con gà có nhiều triển vọng.

Gà có nhiều thể đá. Có con độc chiếu sát thủ, có con ra rất nhiều đòn. Đây là những thế chính của chiến kê:

– Đòn nạp, xạ: ban đầu gà còn sức bay cao, tung song phi. Đến hiệp thứ ba trở đi, con nào còn bay nạp xạ được nuôi dưỡng đúng mức. Đòn nạp chính xác chỉ thấy ở gà có xương lườn ngay thẳng và hai xương ghim không quá hở rộng. Xương ghim là hai xương gần hậu môn. Bế con gà lên, nếu xương ghim không rộng hơn ngón tay út là vừa. Hai đầu xương ghim phải dài bằng nhau. Cái dài, cái ngắn trước sau gì gà cũng bị đui mắt.

– Hồi mã thương: đây là gà thế, khôn lanh. Đang đá tự nhiên bỏ chạy, địch thủ rượt theo, bất thần quay lại đá thốc lên. Đòn này rất độc, sát thủ nếu gà đâm giỏi.

– Đá vỉa: chui vào cánh gà địch và cứ giữ thế đó, gọi là vỉa tối. Bằng không, chui ra, chui vào khi thời cơ đến, gọi là vỉa sáng. Thế này có thể đá gãy cánh đối phương.

– Đá sỏ, mé: cắn mồng, mỏ rồi tung đòn.

– Đá mã kỵ: bay cao đáp xuống đá vào lưng. Nếu trúng cựa sâu sẽ sát thủ vì trúng phổi.

– Ngoài ra tuỳ theo vị trí đá, người ta nói đá long. đá hang cua, đá khai vựa lúa (bầu diều), đá kèo trên, đá kèo dưới, đá lấn (đá áp thô). Có gà đá một cú gọi là độc cước. Chiến kê đá có nét ra liền cước…

Chọn gà theo “kê tướng”:

– Mỏ: vừa, hơi cong, chắn chắn. Chiến kê dùng mỏ cắn địch thủ để tung đòn. Gà ô, chân trắng mỏ trắng “mẹ mắng cũng mua” thuộc dòng chiến tướng. Gà dở, “đâu đầu nhìn miệng” là gà nát gối, liên tu

– Mồng: gọn như mồng trích, mồng dâu. Tránh mồng xệ, mồng lá. Mồng cối, theo người xưa là không may độ.

– Đầu gà: phải cân đối với cần. Lớn hơn cần quá rõ là gà chậm chạp, đợi địch ra đòn hai ba cái mới trả lại đòn.

– Mắt gà: màu thau, màu bạc, mắt ốc cau có tia máu là giống gà tốt. Mắt lanh, mí mắt mỏng. Gà ô mỏ xanh, mắt ếch, đá chết không chạy.

– Mặt gà: chữ điền là gà gan lì. Mặt tam giác là gà lanh, né giỏi, trả đòn chớp nhoáng.

– Gò má: bằng phẳng từ đầu mỏ, nhô cao ở mí mắt dưới và mí trên cho thấy mắt gà sâu, bặm trợn, lì đòn. Nhưng mắt đừng quá sâu, gà chậm ra đòn.

– Lưỡi gà: hai lưỡi (song thiệt), lưỡi đen (hắc thiệt), lưỡi ngắn (đoản thiệt) là những “linh kê”, dị tướng.

– Cổ gà: tròn hay vuông đều được. Cần nhất là xương cổ phải liên lạc, sát nhau. Tránh cổ cò. Ở dưới cổ có miếng thịt dư gọi là hầu bò, chính gốc nòi, gà 1 đòn, chịu đựng nước khuya. Tích gà phải đỏ tươi, có vết trắng là đã lai. Muốn thử cổ gà, ta lấy tay đè cần sẽ lượng được độ cứng cáp của cổ gà.

– Ức gà nở nang. Bầu diều nằm bên trái (trữ thực tả), dị tướng nên được xếp hàng “linh kê”

Cánh gà: 18 lông thật sát, chồng lên nhau. Cánh xếp ôm chặt lưng, dài gần tới đuôi. Nếu có một lông trắng tuyền, hay có một “lông tượng” cuốn xoắn lại, cứng. Nếu là mái nòi có lông tượng, bầy con phần lớn đều có những vảy cực tốt như án thiên, phủ địa, đại giáp, nghịch lân …

– Lưng gà không gù, thế đứng giọt mưa hay ưỡn ngực ứng thiên là gà chuyên đá trên.

– Lông mã: nhỏ, nhiều, dài gần tới gối là giống tốt. Nên lựa chọn lông mã một màu.

– Phao câu: to; hai bình dầu thuộc dị tướng. Phao câu lớn sẽ cho lông đuôi dài, cứng. Gà đứng vững, dùng đuôi để đưa ra đòn.

– Chân gà: lưỡng túc tam phân. Đùi tròn, thon không tốt bằng đùi dẹp, nở nang. Căng nhỏ, tròn hoặc vuông như cạnh thước. Cân nhất phải thon. không có mỡ.

– Ngón: nhỏ, thon. Ngón giữa hay còn gọi là ngón chúa, ngón ngọ phải từ 19 vảy. Hai ngón nội. ngoai từ 14 vảy. Ngón sau gọi là ngón thời phải từ 7 vảy đổ lên.

– Móng: dài, cong như móng rồng là chiến tướng thuộc loại “ế độ”, đá đâu thắng đó, không ai dám cáp. Nên nhớ, ngón thới cũng đâm.

Về vảy vi, hai hàng vảy trước là hàng thành và hàng nội nên mỏng, trong sáng, đường viền nhỏ. Vảy xếp theo hình chữ “nhân” rất tốt, hay úp lên nhau như cái máng xối cũng nên chọn lựa.

Ở phía sau cẳng gà là hàng hậu, phải no tròn, chạy dài từ gối xuống tới gần cựa, gọi là “gà no hậu”. Không nên chọn lựa gà có một vảy hậu nứt ra, “bể hậu” hay “khai hậu”; con này sớm muộn gì cũng tử trận. Gà thất hậu, vảy rời rạc không bền. Tuy nhiên nếu có “khai hậu” mà phía trước hàng ngoại cũng có một váy bị xẻ đôi, gọi là “bể biên”, lại thuộc là gà chiến: “bể biên, khai hậu là cậu gà nòi”. Hàng độ từ cựa đi lên phải thật sát nhau, càng lên cao càng nhỏ lại. Hàng độ chạy song song với hàng kẽm, trên to dưới bé. Độ có màu như son là tuyệt vời. Đếm được bao nhiêu vảy độ là gà có triển vọng bấy nhiêu. Từ ngón thới (ngón sau), có hàng độ dưới. Chạy lên cao, bao lấy cựa, gọi là “hoa đăng thới”. Gà này có thêm cặp cựa song đao, đóng sát ngón thới, hễ nó nhảy lên là đâm. Giữa hàng vảy ngoại và hàng hậu có hai, ba hàng biên màu son. Hàng biên tốt như “thập biên”, (chữ thập), “liên giáp biên”…

Cập nhật thông tin chi tiết về R.i.p Một Chiến Kê Trẻ Anh Hùng trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!