Xu Hướng 2/2023 # Kỹ Thuật Nuôi Gà 9 Cựa # Top 10 View | Raffles-design.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Kỹ Thuật Nuôi Gà 9 Cựa # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Kỹ Thuật Nuôi Gà 9 Cựa được cập nhật mới nhất trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Kỹ thuật nuôi gà 9 cựa

( 02-08-2016 – 03:41 PM ) – Lượt xem: 2243

1. Cách phân biệt gà chín cựa thuần chủng và gà lai

Gà  chín cựa thuần chủng là giống gà quý của dân tộc ta từ ngàn đời nay. Tuy nhiên do lợi ích kinh tế mà chúng mang lại nên hiện những chú gà này đang ngày một khan hiếm đi, đồng thời giống gà lai xuất hiện ngày càng nhiều hơn. Vậy làm sao để phân biệt gà chín cựa thuần chủng và gà lai? Chúng tôi xin chia sẻ với các bạn một vài đặc điểm nhận dạng đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, gà chín cựa thuần chủng xuất thân từ gà rừng nên có kích thước và trọng lượng nhỏ. Gà trống 4 – 5 tháng tuổi chỉ nặng chừng 8 – 9 lạng, tuy nhiên khi ấy chú đã bắt đầu trổ mã, tập gáy. Gà mái khi nặng chừng 7 – 8 lạng thì đã đòi nhảy ổ và có thể “thịt” được. Một con gà trống trưởng thành chỉ nặng khoảng 1,7 – 2kg. Trong khi những chú gà lai thường có kích thước và cân nặng to hơn nhiều.

Thứ hai, có một điều hết sức đặc biệt ở những chú gà thuần chủng là thần sắc của chúng hoàn toàn khác nhau, không con nào giống con nào. Do được sống trong môi trường tự nhiên nên chúng có sức khỏe tốt và giữ được gen quý của giống gà trong truyền thuyết. Lúc nào trông chúng cũng toát lên vẻ oai vệ, hiên ngang và tự tại. Trái lại, những chú gà lai được nuôi theo kiểu công nghiệp nên trông hao hao nhau và không có được thần khí như vậy.

Thứ ba, gà chín cựa thuần chủng có mào đỏ tươi như máu và lông đuôi thì cong vút như cầu vồng. Trong khi những chú gà kia do đã bị lai nên mào không còn giữ được màu đỏ tươi, lông cũng không có độ cong hoàn hảo và đẹp như những chú thuần chủng.

Thứ tư, những chú gà thuần chủng có đôi mắt sáng quắc, thậm chí không hoảng ngay cả khi bị giữ chặt. Đặc biệt, đôi chân của chúng rất to, chắc, khỏe và hết sức linh hoạt. Để bắt một chú gà thuần chủng là cả một vấn đề vì chúng rất nhanh, có khi phải cần đến 3-4 người, nhiều khi còn phải dùng cả lưới. Thậm chí, nhiều người còn so sánh rằng “bắt một chú gà chín cựa thuần chủng còn khó hơn bắt một con lợn rừng”. Ngược lại, những chú gà lai kém linh hoạt hơn hẳn, chân cũng nhỏ hơn, âu cũng là do không gian sống và không được thừa hưởng gen tốt từ bố mẹ.

Thứ năm, có thể nói trong các giống gà, gà chín cựa là loại “kiêu căng và hiếu chiến nhất”. Không chỉsở hữu một đôi chân to, chắc mà chúng còn có 3 cựa mọc đều mỗi bên. Mỗi cựa dài, ngắn khác nhau, mọc nối theo hàng. Đặc biệt, cựa trên cùng hoàn toàn chỉ là sừng, cong vút như lưỡi câu liêm hay nanh lợn rừng”. Do tự hào mình nhiều cựa như thế, nên chúng ít giao du với các loại gà khác và cũng chỉ thích đạp với những con mái trong dòng tộc. Chúng bay nhanh hơn gà nhà, lại khỏe hơn nên trong các cuộc chiến chúng thường chiếm phần thắng. Vì vậy, khi gặp những chú gà “ngoài tộc họ” chúng luôn sẵn sàng lao vào giao chiến. Còn những chú gà khi đã bị lai thì tính hiếu chiến kém hơn hẳn so với những chú gà thuần chủng, đồng thời cũng ít “kiêu căng” hơn.

Thứ 8: cổ gà thuần chủng ngắn còn gà lai thường rất cao.

Thứ 9: Gà lai 9 cựa như tập đoàn Dabaco không có cựa nào ngay từ lúc mới sinh ra hoặc có nhưng không rõ ràng đến khi trưởng thành thì mới bắt đầu mọc cựa

Thứ 10: Gà 9 cựa thuần chủng có sức khỏe và sức chịu đựng cao, khả năng thích nghi tốt trước những biến động thời tiết khắc nghiệt và các loại bệnh tật tốt hơn hẳn gà lai. Nhà anh An có tiếng là nuôi lắm gà 9 cựa thuần chủng ở bản Cỏi, xã Xuân Sơn. Mấy năm rồi, các loại gà khác trong bản bị dịch chết suốt, tưởng tuyệt chủng cả giống gà 9 cựa. Anh An hoảng quá mới sơ tán lũ gà của nhà mình lên trại trên núi Suối Báng cách bản vài cây số để chăm sóc gà. Nhưng sự lo lắng của anh An là thừa. Trong khi những con gà lai mặc dù được tiêm thuốc phòng, phun khử trùng vẫn chết, thì những con gà 9 cựa của bản sau dịch vẫn sống sót, khỏe mạnh và gáy đều mỗi sáng.

Thứ 11: Tiếng gáy gà chín cựa thuần chủng trong và vang rất xa. Trong khi gà lai thì khàn đục hơn và không vang xa bằng.

Nguồn: Trại Giống Thu Hà

2. Kỹ thuật nuôi gà 9 cựa

Phương pháp nuôi gà nhiều cựa dễ dàng và giống với các giống gà địa phương khác:

Chuồng nuôi gà:

– Chuồng làm đơn giản bằng vật liệu rẻ tiền như tre, nứa, luồng, lá cọ tranh, rạ… Nuôi 100 con cần diện tích khoảng 25 – 30m2. – Nên làm chuồng sàn bằng tre, gỗ, cao 40 – 50 cm so với nền chuồng (nền láng xi măng) để phân gà rơi xuống dưới, tránh bẩn, ẩm ướt và dễ dàng hót phân. – Làm chuồng nơi cao ráo, hướng Đông Nam, tận dụng càng nhiều ánh sáng tự nhiên càng tốt. – Chuồng gà mái đẻ làm hơi dốc để trứng lăn về trước, tránh giập vỡ trứng và tránh gà mổ trứng.​

Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng:

Giai đoạn gà con : từ 1ngày – 4 tuần tuổi

– Nuôi trong lồng: Kích cỡ lồng: 1 m x 2 m x 0,9 m (kể cả chân đáy 0,4 m) để nuôi 100 gà con. Đáy lồng làm bằng sắt ô vuông 1 x 1 cm, xung quanh chuồng dùng lưới sắt mắt cáo và nẹp tre, gỗ để bao.

– Nuôi trên nền : Chất độn chuồng (trấu, dăm bào dày 7 – 10 cm và phun thuốc sát trùng (Formol 2%). Dùng cót cao 50 – 70 cm để quây (15 – 20 con/m2 và nới rộng cót theo thời gian sinh trưởng của gà – Sưởi ấm cho gà : Dùng bóng điện, đèn dầu, than củi để sưởi ấm cho gà: tuần 1 : 31 – 340C; Tuần 2 : 29 – 310C; Tuần 3 : 26 – 290C và tuần 4 : 22 – 260C.

– Quan sát phản ứng của gà đối với nhiệt độ để điều chỉnh cho phù hợp + Nếu nhiệt độ vừa phải : gà nằm rải rác đều khắp chuồng, đi lại ăn uống bình thường. + Nếu nhiệt độ thấp: Gà tập trung lại gần nguồn nhiệt, đứng co ro run rẩy hoặc nằm chồng lên nhau. + Nhiệt độ cao: gà tản xa nguồn nhiệt, nằm há mỏ thở mạnh, uống nhiều nước. + Gió lùa: gà nằm tụm lại ở góc kín trong chuồng. + Chiếu sáng suốt đêm cho gà trong 2 – 3 tuần đầu để đảm bảo ánh sáng, điều chỉnh nhiệt độ, chống chuột, mèo và gà con sẽ ăn uống được nhiều để đảm bảo nhu cầu phát triển cơ thể.

– Thức ăn cho gà : Ngày đầu tiên chỉ cho gà ăn tấm hoặc ngô nghiền nhuyễn. Từ ngày thứ hai trở đi cho gà ăn bằng thức ăn công nghiệp, loại cám hỗn hợp hoặc cám viên dùng cho gà con, tỷ lệ protein thô từ 19 – 21% và năng lượng 2800 – 2900 kcal. Cho gà ăn nhiều lần trong ngày, mỗi lần một ít để thức ăn luôn được mới, thơm ngon, kích thích tính thèm ăn của gà. Có thể sử dụng thức ăn đậm đặc hoặc thức ăn hỗn hợp trộn với thức ăn địa phương cho gà ăn. Cho thức ăn vào mẹt , khay tôn, khay nhựa cao 3 – 5 cm hoặc máng bằng tre luồng để cho gà ăn.

– Nước uống: nước cho gà pha 50 gr đường glucoza với 1 g Vitamin C/ 3 lít nước để chống stress cho gà. Chỉ cho gà ăn sau khi đã được uống nước, nước uống phải sạch và ấm ở nhiệt độ 16-20 oC. Sử dụng máng uống bằng hộp nhựa, chai đựng đầy nước úp ngược hoặc các chụp ống bằng nhựa hoặc ống bương từ 3 – 5 lít nước cho 100 gà.

– Nuôi gà từ 4 tuần tuổi đến khi giết thịt: Sau 4 tuần tuổi bắt đầu thả gà ra vườn, thả khi mặt trời đã mọc từ 1 – 2 giờ. Ngày đầu thả ra khoảng 2 giờ và tăng dần vào những ngày sau để gà quen dần trong vòng một tuần. Đảm bảo dinh dưỡng cho gà ăn với tỷ lệ protein thô 15 – 16 %, năng lượng 2800 kcal. Cần bổ sung thêm thức ăn cho gà vào buổi chiều trước khi gà lên chuồng bằng lúa, tấm, cám và giun đất. Trước khi bán 10 – 15 ngày vỗ béo cho gà ăn bằng cách cho gà ăn tự do thức ăn hỗn hợp tấm hoặc ngô vàng.​

Nuôi gà mái đẻ:

Từ 1 – 6 tuần tuổi : Nuôi như gà thịt thương phẩm. Từ 7 – 20 tuần tuổi: Cho gà ăn hạn chế với lượng thức ăn ít hoặc thức ăn có năng lượng thấp dưới 2700 kcal để tránh gà quá béo, vì gà béo quá dễ đẻ muộn để thưa, năng suất trứng thấp. Đảm bảo thức ăn cho gà trong thời gian đẻ với tỷ lệ protein thô 16 – 18% và năng lượng 2.750 kcal. Cho gà ăn bổ sung thêm canxi bằng bột vỏ ốc, bột vỏ sò, bột đá vôi nghiền. Tỷ lệ đẻ của gà tăng thì cũng tăng lượng thức ăn cho gà. Mật độ nuôi gà đẻ: 4 – 5 con/m2 chuồng. Lượng thức ăn cho gà : tuần tuổi gr/con/ngày 1 – 6 tuần tuổi ăn tự do 7 – 10 tuần tuổi : 45 – 55 gr/con/ngày 11 – 16 tuần tuổi : 55 – 65 gr/con/ngày 17 – 20 tuần tuổi: 70 – 80 gr/con/ngày Gà đẻ 115 – 125 gr/con/ngày

Ấp trứng gà 9 cựa bằng máy ấp trứng

Để đảm bảo sức khỏe cho gà 9 cựa mái, sau khi đẻ trứng, bà con nên cho gà mái nghỉ ngơi, trứng được ấp bằng máy còn gà mái được nghỉ dưỡng, như vậy chỉ sau 1 đến 2 tuần là gà mái đẻ lại.

Bà con có thể lựa chọn mua một chiếc máy ấp trứng tự động hoặc đảo thủ công, quan trọng nhất là phần nhiệt độ phải có mạch đóng ngắt nhiệt độ tự động khi đã đủ nhiệt.

Máy ấp tự động thì các quá trình điều khiển nhiệt độ, điều khiển đảo trứng đều được lắp đặt tự động, đỡ tốn công sức chăm sóc, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Máy ấp bán tự động thì chỉ có phần nhiệt độ là được cài đặt tự động, quá trình đảo trứng phải thực hiện thủ công, thông thường 3 đến 5 tiếng phải đi trở trứng một lần, tốn thời gian.

Còn cách ấp thủ công hoàn toàn theo kinh nghiệm truyền thống bà con hay làm cái ủ giữ nhiệt, rang nóng lúa hoặc trấu, dùng tay sờ để cảm nhận độ nóng vừa phải, sau đó cho vào ủ, bỏ trứng vào ủ kín, mỗi ngày rang lại chất ủ (lúa hoặc trấu) 3 lần. Cách này thì tốn thời gian và công sức hơn nhiều.

Hiện nay bà con có thể tự chế máy ấp trứng bằng thùng xốp với chi phí rất hợp lý bằng cách sử dụng một thùng xốp, một relay thủy ngân, một relay trung gian 10A, một quạt hút 12x12cm để đấu nối thành bộ điều khiển nhiệt, ngoài ra nếu muốn đảo tự động thì mua thêm 1 mô tơ, 1 bộ timmer để lắp bộ điều khiển đảo. xem bài cách làm máy ấp trứng gà

Phòng bệnh cho gà :

– Gumboro lần 1 : 5 – 7 ngày tuổi : Nhỏ mắt,mũi – Dịch tả lần 1 : 5 – 7 ngày tuổi : Nhỏ mắt mũi – Chủng đậu 1 : 7 ngày tuổi : Chủng dưới cánh – Gumboro lần 2 : 21 ngày tuổi : Nhỏ mắt mũi – Dịch tả lần 2 : 18 ngày tuổi: Nhỏ mắt mũi – Gumboro lần 3 : 33 – 35 ngày tuổi : Nhỏ mắt mũi.

Nguồn: sưu tầm

Kỹ Thuật Nuôi Gà Đá Cựa Sắt Tốt Nhất

Đá gà cựa sắt là một trò chơi dân gian có sức hút cực kỳ lớn từ các đòn đánh mãn nhãn của những chiến kê. Tuy nhiên để làm được điều này, sư kê phải thực sự am hiểu về cách nuôi gà đá cựa sắt sao cho con vật của mình có khả năng thi đấu tốt nhất, hạn chế chấn thương sau khi tham trận.

Nuôi gà đá cựa sắt có các giai đoạn nào?

Với những người thiếu kinh nghiệm, họ thường không quan tâm lắm đến việc chăm sóc gà mà phần lớn là tập cho gà đá ngay từ những ngày đầu mới mua về. Tuy nhiên cách làm như vậy sẽ khiến bạn nhanh chóng nhận thất bại khi ra đấu trường, đặc biệt là khi có gắn cựa sắt.

Để nuôi gà đá cựa sắt, chúng ta cần phải giúp gà có đủ cơ bắp, sức khỏe và cả kỹ năng chiến đấu. Trong đó giai đoạn mới mua về cần tập trung vỗ béo cho gà trước, sau đó mới giảm mỡ và tập luyện. Việc này cũng giống như những lực sĩ thể hình, họ cần ăn thật nhiều để có thể phát triển cơ bắp, sau đó mới giảm mỡ thì mới săn chắc được.

Khi nuôi gà để đá cựa sắt, bạn cần phải đặc biệt quan tâm đến chế độ dinh dưỡng. Trong đó có các loại thức ăn chính như: Thóc, lúa, rau xanh, mồi (thịt bò, sâu, lươn,…), vitamin các nhóm, thuốc phariton để vỗ béo gà.

Mỗi loại thức ăn hay thuốc đưa vào người của gà phải đúng giờ, đúng giấc và liều lượng thì mới có thể phát triển được tốt nhất, sau này ra trận sẽ có những cú đá mạnh mẽ nhất.

Sau khi đã biết được chế độ ăn, chúng ta cũng cần tìm hiểu cách tập luyện cho gà để có sức chiến đấu cao hơn. Nếu không được huấn luyện đúng cách thì một là gà sẽ nhút nhát, không dám đá lại đối phương, hai là sẽ không thể có khả năng chịu đựng cũng như không có kỹ thuật đá tốt được.

Để tập luyện cho gà có thể đá được tốt nhất, chúng ta cần làm theo những bài tập sau:

Cho gà tập chạy lồng, chạy bội

Thả để gà có thể vần gà mái hoặc vần với chính sư kê

Quần gà trong thời tiết sương và nắng nóng, điều này sẽ giúp tăng tối đa độ bền bỉ cho gà

Tổng cộng, một chú gà đá cựa sắt có 3 kỳ vân hơi và 4 kỳ vần đòn.

Nếu được tập luyện đúng kỹ thuật, chắc chắn chú gà của bạn sẽ có độ bền và cực kỳ máu chiến. Những cú đá tuy không cần gắn cựa cũng có sức gây chấn thương rất lớn rồi.

Bên cạnh việc tập luyện, bạn cũng nên xoa bóp cho gà bằng rượu nghệ để nhanh hồi phục cơ bắp hơn. Đồng thời, nếu được xoa bóp rượu nghệ đầy đủ, chiến kê sẽ có làn da dày và đỏ hơn, vừa tạo sự uy nghi trước đối thủ, vừa mang lại sức chịu đựng tốt hơn.

Trong kỹ thuật nuôi gà đá cựa sắt, việc biết được chính xác thời điểm nào gà đã tới pin là cực kỳ quan trọng. Nếu bạn cho gà ra trận quá sớm thì thường khả năng thua trận là rất cao, hoặc trong nhiều trường hợp đá cựa sắt gà sẽ bị chết, do đó công sức bỏ ra rất uổng phí.

Nhận biết gà đã tới pin phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của các sư kê. Tuy nhiên thông thường có những dấu hiệu như:

Da trở nên đỏ hơn, màu đẹp hơn so với trước đây

Nếu chú ý tiếng gáy của gà thì sẽ thấy vang hơn, to hơn

Màu mắt sáng rực lên

Cơ bắp bắt đầu săn chắc và cực kỳ khỏe mạnh. Phần gân cứng và đùi gà đá nở to ra

Gà không còn ăn nhiều như trước đây

Không phải bất cứ chiến kê nào cũng có những dấu hiệu này. Bạn nên dựa vào kinh nghiệm và cảm nhận cá nhân qua quá trình nuôi để nhận biết gà của mình đã tới pin hay chưa.

Cách nuôi gà đá cựa sắt yêu cầu sư kê bỏ ra rất nhiều công sức và tiền bạc. Tuy nhiên niềm vui khi thấy được thành quả sau một thời gian khổ công thì không gì có thể so sánh được. Có một chú gà chiến tốt sẽ giúp bạn dễ dàng thắng trận hơn, bảo vệ chiến kê tốt hơn.

Kỹ Thuật Nuôi Gà Tre Đá Cựa Sắt Hay, Dũng Mãnh

Ai cũng mong muốn sở hữu kỹ thuật nuôi gà tre đá cựa sắt hay, dũng mãnh. Nhưng làm thế nào? Hầu hết mỗi người nuôi gà sẽ có phương pháp riêng. Có người thì chú trọng vào giống. Người thì quan tâm đến chế độ dinh dưỡng và thuốc hỗ trợ. Nhưng cũng có sư kê dựa nhiều vào quá trình luyện tập.

Nên trong bài viết này, chúng tôi sẽ tổng hợp một bí quyết nuôi gà chiến hay. Mang lại hiệu quả cao. Do nhiều sư kê đánh giá nhất hiện nay.

Kỹ thuật nuôi gà tre đá cựa sắt hay dựa vào hình thể

Nếu đó điều kiện và đầu tư bài bản. Thì cách tốt nhất để sở hữu những chiên kê hay đó là phối giống. Chọn gà bố và gà mẹ với những gen vượt trội lai với nhau. Giống gà con ra đời sẽ nắm được 70% ưu điểm của bố mẹ. Kết hợp với quá trình chăm nuôi của sư kê nữa sẽ sở hữu ngay một chiến binh hùng dũng.

Quan sát chiến kê từ màu sắc, dáng đứng, tướng đi, tiếng gáy và tiếng vỗ cánh. Dành khoảng 1 – 2 phút để quan sát mỗi con. Bạn chắc chắn sẽ nhận thấy một vài con có sức hút mãnh liệt ngay cái nhìn đầu tiên. Có thể là bởi màu lông đẹp, cũng có thể ở tiếng gáy to, khỏe. Bạn có thể tin vào những dự cảm này.

Tiêu chuẩn nhất định của gà tre đá cựa sắt hay

Không phải gà tre nào cũng đủ điều kiện và yếu tố để huấn luyện đá cựa sắt. Để chọn được chiến binh tốt ở dòng cựa sắt, cần đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

– Về sức khỏe: Có thể kiểm tra qua miệng (có bị hôi không, có nhớt, ké không,..), cánh và chân.

Kỹ thuật nuôi gà tre đá cựa sắt dựa vào kỹ năng

Dù sở hữu giống gà tốt hay vô tình chọn được chiến kê có sức khỏe. Mà sư kê không hỗ trợ về mặt kỹ năng thì cũng không làm gì được. Cũng như câu nói “Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Sinh ra trong gia đình giỏi võ không có nghĩa con sẽ giỏi võ. Có thể hứng thú, nhưng nếu muốn giỏi phải luyện tập.

Nuôi gà chiến cũng vậy. Giống tốt là một phần. Kỹ năng được hình thành trong quá trình luyện tập lại là một phần khác. Các sư kê cần cho gà đá của mình luyện tập thường xuyên. Một số bài luyện tập dành cho gà tre đá cựa sắt như:

– Chạy lồng

– Xổ gà

– Dầm sương dãi nắng

– Om bóp, vào nghề

Mỗi bài luyện tập lại mang đến những giá trị riêng. Cụ thể: đối với vần hơi giúp chiến kê tăng sức bền. Chạy lồng tăng cơ bắp cho chân, hỗ trợ tăng cơ bắp, đá có lực. Dầm sương dãi nắng giúp cơ thể phát triển toàn diện, thích ứng với môi trường. Quá trình om bóp và vào nghệ giúp da gà dày và chắc hơn.

Lưu ý cần nhớ trong kỹ thuật nuôi gà tre đá cựa sắt

Khi nuôi gà tre đá cựa sắt có một vấn đề mà các sư kê cần lưu ý. Đó là không cắt tỉa lông gà. Có thể tỉa ít cho bộ lông mọc đều và đẹp hơn. Nhưng nhìn chung vẫn phải đảm bảo bộ lông dày cho chiến kê.

Bởi đá cựa sắt các đòn đều rất hiểm. Bộ lông sẽ đóng vai trò như áo giáp. Giảm các vết thương trực tiếp vào thịt của chiến kê. Từ đó tăng khả năng chịu đòn hơn.

Kỹ Thuật Nuôi Gà Tre

I. KỸ THUẬT CHĂN NUÔI GÀ NÓI CHUNG VÀ GÀ TRE NÓI RIÊNG

1.Chuẩn bị điều kiện nuôi:

Trước khi đem gà về nuôi cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện vật chất kỹ thuật như: – Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày. – Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y cần thiết cho đàn gà. – Chuồng nuôi đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông. – Nền chuồng thiết kế đúng kỹ thuật, cao ráo, thoát nước. – Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10 cm được phun sát trùng khi sử dụng. – Đảm bảo lưu thông không khí trong chuồng nuôi.

a. Chuồng trại: Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để cất chuồng gà. Nên cất chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng sáng và tránh được nắng chiều. Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền). Nếu nuôi gà thả vườn,chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ là ít nhất 1 con/m2. Mặt trước cửa chuồng hướng về phía đông nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5 m để thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh. Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ… tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn chơi, buổi tối cho gà về chuồng. b. Lồng úm gà con: – Kích thước 2m x 1 m cao chân 0,5 m đủ nuôi cho 100 con gà. – Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75 W dùng cho 100 con gà). c. Máng ăn: – Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải cám tấm trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn. – Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con. – Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo. d. Máng uống: Đặt hoặc treo xen kẻ các máng uống với máng ăn trong vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày. e. Bể tắm cát, máng cát sỏi cho gà: Gà rất thích tắm cát. Đối gà nuôi chăn thả phải xây bể chứa cát, tro bếp và diêm sinh cho gà tắm. Kích thước bể dài 2 m, rộng 1 m, cao 0,3 m cho 40 gà. Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn. f. Dàn đậu cho gà: Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng. Dàn đậu làm bằng tre, gỗ (không nên làm bằng cây tròn vì trơn gà khó đậu). Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5 m, cách nhau 0,3-0,4 m để gà khỏi đụng vào nhau, mổ nhau và ỉa phân lên nhau. * Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái. * Vườn chăn thả: 1 m2/1 gà. 2. Chăm sóc nuôi dưỡng: Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc Vitamine C, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày.Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm. Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng Rigecoccin 1 gr/10 kg thức ăn (hoặc dùng Sulfamid trộn tỷ lệ 5%).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ. Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rủ cần cách ly ngay để theo dõi. Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn. Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn. Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Electrolyte hoặc Vitamine C. Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn. Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7. Chú ý: Không nuôi nhiều cở gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ. 3.Thức ăn cho gà: Gà là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rửa. Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng. Đối với gà thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể. Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà. – Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà. – Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do. Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn. – Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước. 4. Vệ sinh phòng bệnh: Vệ sinh phòng bệnh là vấn đề là công tác chủ yếu, đảm bảo “Ăn sạch, ở sạch, uống sạch”. Nên chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả. Áp dụng nghiêm ngặt lịch phòng vaccine tuỳ theo từng địa phương. Ngoài ra, dùng kháng sinh phòng một số bệnh do vi trùng, đặc biệt đối với gà thả nền thì cần phải phòng bệnh cầu trùng khi cho xuống nền và thả vườn. a. Những nguyên nhân gây bệnh – Gia súc non, gia súc bị suy yếu, giống mẫn cảm với bệnh. – Môi trường sống: + Thức ăn không cân bằng dinh dưỡng dễ làm con vật mắc bệnh. + Nước uống phải sạch. + Không khí, nhiệt độ …. b. Sức đề kháng của cơ thể gia súc: – Mỗi con vật đều có một hàng rào cơ học để tự bảo vệ cơ thể. – Sức đề kháng do con người tạo bằng cách tiêm các loại vaccin phòng bệnh (sức đề kháng chủ động). c. Các biện pháp vệ sinh phòng bệnh: * Vệ sinh phòng bệnh: – Thức ăn tốt. – Nước sạch. – Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao. – Chuồng nuôi sạch. – Quanh chuồng nuôi phải phát quang. – Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh. * Phòng bằng Vaccine: Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh: – Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe. – Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng. – Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ. Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm. * Phòng bằng thuốc: – Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol… – Bệnh đường hô hấp: Tylosin, Tiamulin,… Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình. Mỗi liệu trình phòng bệnh khoảng 3-4 ngày là đủ d. Phòng bệnh: Thời gian Bệnh Phương thức 1 ngày Marek, Rumboro, Dịch tả Nhúng ngập mũi 10 ngày Gumboro, Đậu Nhỏ mũi, xuyên da cánh 21 ngày Dịch tả Nhỏ mũi, uống 28 ngày Gumboro Nhỏ mũi, uống 56 ngày Dịch tả Uống 105 ngày CRD Chích bắp Trong giai đoạn gà đẻ, chỉ sử dụng kháng sinh khi gà bệnh. Sau 6 tháng đẻ, ngừa lại các bệnh dịch tả, tụ huyết trùng, Gumboro cho đàn mái đẻ.

II.MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở GÀ

Bệnh lan truyền do gà ăn phải thức ăn, uống nước có lẫn các noãn bào. Bệnh dễ lây truyền từ chuồng này sang chuồng khác, nơi này sang nơi khác do người ta, súc vật… vô tình mang các noãn bào này đi xa. Tốc độ sinh sản nhanh của các cầu trùng khiến bệnh dễ bộc phát. Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác. Mức độ gây bệnh tùy thuộc vào phương thức nuôi, nuôi trên sàn lưới ít mắc bệnh hơn nuôi trên nền. 2. Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi.Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm. 3. Bệnh tích: Manh tràng sưng to, chân đầy máu.Ruột sưng to.Trong đường tiêu hóa có dịch nhầy và máu. 4. Phòng bệnh: Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt. Dùng thuốc trộn vào thức ăn hay pha nước uống cho gà. Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày). + Anticoc 1gr/1 lít nước. + Baycoc 1ml/ 1 lít nước. 5. Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi liều phòng 1. Nguyên nhân: Do vi khuẩn gây ra, bệnh có thể truyền trực tiếp từ gà mẹ sang gà con và cũng có thể nhiễm gián tiếp qua thức ăn, nước uống bị nhiễm mầm bệnh. 2. Triệu chứng: Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối.Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo. 3. Bệnh tích: * BỆNH THƯƠNG HÀN (Salmonellosis) – Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn. – Gà đẻ: Gan có điểm hoại tử trắng, túi mật sưng to, buồng trứng đen tím, trứng non dị hình méo mó. 4. Phòng bệnh: Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh: – Oxytetracyclin: 50-80 mg /gà/ngày, dùng trong 5 ngày. – Chloramphenical: 1 gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày. 5. Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi so với liều phòng bệnh. * BỆNH DỊCH TẢ (Newcastle disease) 1. Nguyên nhân: Bệnh do virus gây, lây lan mạnh. Chủ yếu lây qua đường tiêu hóa, tuy nhiên bệnh cũng có thể lây qua dụng cụ chăn nuôi. Gà mọi lứa tuổi đều mắc bệnh. 2. Triệu chứng: Thường biểu hiện ở 2 thể: cấp tính và mãn tính. a.Thể cấp tính: Bệnh xuất hiện đột ngột, gà chết nhanh không biểu hiện rõ triệu chứng. Thường rụt cổ, ngoẹo đầu vào cánh, ủ rũ, nhắm mắt mê man bất tỉnh, sau đó chết. Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở). Tiêu chảy phân màu xanh – trắng, diều căng đầy hơi. Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi.Tích, mào tím xanh. Nếu sau 4-5 ngày gà không chết, sẽ xuất hiện triệu chứng thần kinh: Gà vận động tròn theo một phía, đi đứng không vững. Gà giảm đẻ, vỏ trứng mềm.Tỷ lệ chết từ 50-90%. b. Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ…. Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%. 3. Bệnh tích: Biến đổi tùy thuộc vào thời gian kéo dài bệnh, lứa tuổi và độc lực của virus.Dạ dày tuyến xuất huyết, có dịch nhầy ở ruột già. 4. Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine. 5. Trị bệnh: Dùng các thuốc tăng sức đề kháng: Vitamix, vit-plus,…. * BỆNH GUMBORO 1. Nguyên nhân: Do virus. Gà thường mắc bệnh ở 4-8 tuần tuổi. 2. Triệu chứng: Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu. Gà sút nhanh, run rẫy. Tỷ lệ nhiễm bệnh rất nhanh: 2-5 ngày toàn đàn bị nhiễm. Tỷ lệ chết: 10-30%. Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày). 3. Bệnh tích: Cơ đùi xuất huyết đỏ thành vệt. Bệnh mới phát túi Fabricius sưng to. -Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy. -Ngày thứ 3: Xuất huyết lấm tấm hoặc thành vệt cơ đùi, cơ ngực. -Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm. 4. Phòng và trị bệnh: – Phòng bệnh bằng vệ sinh: Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi. – Phòng bằng vaccine. – Trị bệnh: Chưa có thuốc đặc trị. Chỉ dùng thuốc tăng sức đề kháng vật nuôi. + Vitamix: 2 gr/1 lít nước. + Vitamine C: 1 gr/ 1 lít nước. + Dexa (0,5 gr): 1 viên/ 3-4 con. Dùng trong 3 ngày liên tục.

Cập nhật thông tin chi tiết về Kỹ Thuật Nuôi Gà 9 Cựa trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!