Xu Hướng 1/2023 # Kỹ Thuật Làm Chuồng Và Chăm Sóc Gà Rừng Cho Hiệu Quả Cao # Top 7 View | Raffles-design.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Kỹ Thuật Làm Chuồng Và Chăm Sóc Gà Rừng Cho Hiệu Quả Cao # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Kỹ Thuật Làm Chuồng Và Chăm Sóc Gà Rừng Cho Hiệu Quả Cao được cập nhật mới nhất trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nuôi gà rừng làm cảnh hoặc thương phẩm đang là hướn phát triển kinh tế hiệu quả cho bà con nông dân. Tuy nhiên, chăn nuôi gà rừng khá mới lạ, do đó người nuôi cần nắm rõ một số kỹ thuật làm chuồng và chăm sóc để nuôi gà rừng có hiệu quả cao.

Gà rừng là giống gà hoang nên việc thuần dưỡng chúng rất khó, với những con gà rừng đã thuần hóa thì chúng vẫn nhút nhát. Vì vậy việc chăm sóc gà rừng rất quan trọng trọng quyết định thành công của bạn. Với những người mới nuôi nên nuôi gà rừng đã thuần hóa, gà rừng rất khó nuôi và sinh sản ít.

Mỗi năm gà rừng mái chỉ đẻ khoảng 20 trứng chia làm 2 lứa nên khó nhân giống. Bà con cần tuân thủ đúng kỹ thuật nuôi gà rừng. Khi chọn giống cần chọn những con khỏe mạnh nhanh nhẹn để có sức khỏe tốt chống trọi bệnh tật và môi trường nuôi không giống ngoài tự nhiên.

1. Có hai phương pháp nuôi gà rừng được áp dụng phổ biến là nuôi nhốt và nuôi thả. + Gà rừng nuôi nhốt:

Là phương thức nuôi nhốt trong chuồng. Cách làm chuồng gà khá đơn giản, chỉ cần cao ráo thoáng mát có nền đất cát và đủ rộng với số lượng gà. Chuồng thoáng mát vào mùa hè và ấm vào mùa đông, xung quang chuồng nên có cây cối để môi trường sống gần với thiên nhiên, có đủ máng thức ăn và nước uống hoặc dàn đậu cho chúng.

+ Gà rừng nuôi thả:

Phương pháp này đối với gà trên 1 tháng tuổi. Nên thả ở những khu vườn, đồi núi thấp hoặc dưới những tán rừng nơi có nhiều cỏ dại. Chú ý gà nuôi thả phải là gà đã thuần hóa để chúng không bỏ đi với cuộc sống hoang dại trước đó. Chúng sẽ tự kiếm ăn ở các khu vườn, khu rừng như thế gà rừng mới đủ chất, thịt thơm ngon và bộ lông mới đẹp được. Không nên thả nuôi chung với các loại động vật khác như chó mèo vì chúng có thể làm hại đến đàn gà rừng khiến chúng sợ và bỏ đi.

2. Thức ăn cho gà rừng

Thức ăn của gà rừng rất đa dạng, chúng có thể ăn mọi loại ngũ cốc và côn trùng.

Đối với gà rừng nuôi thả thì gà con cho ăn tấm gạo, cám, rau xanh băm nhỏ, ít mồi tươi băm nhỏ, có thể cho ăn côn trùng vì thức ăn tự nhiên này giúp gà con mau lớn và chống lại các dịch bệnh ở gà. Sau vài tháng nuôi có thể cho ăn các loại ngũ cốc thóc gạo tùy ý.

Lúc gà rừng mái thay lông hay ấp trứng cần bổ sung canxi và các chất dinh dưỡng bằng bột vỏ ốc, vỏ sò, vỏ trứng xay nhuyễn hoặc mồi (thịt) tươi giúp gà đủ chất không gầy mòn.

Đối với gà trống, lúc thay lông nên cho gà rừng ăn thật nhiều mồi tươi vì lúc này gò trống rất mất sức, thức ăn tốt nhất là thịt heo mỡ nhiều nạc ít, mỗi ngày cho ăn 3 miếng bằng ngón tay út. Không nên cho gà rừng ăn nhiều, không tốt cho hệ tiêu hóa của nó. Không nên cho gà rừng ăn thức ăn có nhiều bột mỳ hoặc cám tổng hợp vì gà rừng sẽ rất giòn lông, dễ gãy.

Nước uống cần sạch sẽ và phải được cung cấp, thay thường xuyên. Thức ăn và nước uống có thể thêm thuốc phòng các bệnh cho gà.

+ Nguyên vật liệu xây chuồng gà rừng có thể làm chuồng bằng gạch, tre, nứa, gỗ hoặc quây thép lưới B40.

+ Vị trí và hướng xây chuồng: Xây chuồng hướng Nam hoặc Đông Nam là tốt nhất, tránh gió Đông Bắc thổi trực tiếp vào chuồng. Chuồng nuôi gà rừng phải đảm bảo luôn khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Bà con cũng lưu ý chọn địa điểm cao ráo, dễ thoát nước, dễ làm vệ sinh.

4. Chăm sóc gà rừng sau 1 tháng tuổi đến khi bán:

Nên thả gà rừng sau khi mặt trời mọc một hai tiếng. Ngày đầu thả Gà rừng ra khoảng 2 tiếng và tăng dần vào những ngày sau để Gà rừng quen vườn không chạy mất.

Đảm bảo dinh dưỡng cho Gà rừng với tỷ lệ protein thô 15-16%, năng lượng 2800 kacl. Cần bổ sung thêm thức ăn cho gà vào buổi chiều trước khi gà lên chuồng bằng lúa, tấm, cám, giun đất….

Trước khi bán nửa tháng cần vỗ béo cho gà rừng bằng các dinh dưỡng phù hợp.

Kỹ Thuật Nuôi Bò Nhốt Chuồng Hiệu Quả Cao

Trong nhiều năm trở lại đây, nghề nuôi bò đang đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con, khi mà thịt bò trở thành thực phẩm chính yếu của người tiêu dùng cả nước. Để đạt được hiệu quả cao trong chăn nuôi bò, mời bà con tham khảo bài viết sau

Trong điều kiện diện tích đất đai đang bị thu hẹp ảnh hưởng đến việc chăn thả ngoài đồng, nghề chăn

1. Kỹ thuật nuôi bò nhốt chuồng – Chuồng trại:

Mục tiêu là để thuận lợi cho công tác nuôi dưỡng, quản lý đàn bò. xây dựng chuồng nuôi bò ở những nơi cao ráo, sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Hướng chuồng xây theo hướng Nam hoặc Đông Nam, diện tích chuồng nuôi bình quân 3-5 m2/ con. Tuỳ theo qui mô mà chuồng có thể xây dựng 1 dãy hoặc 2 dãy. Nền chuồng phải làm chắc, không láng trơn, có độ dốc 2-3% về phía rãnh thoát. Cần trang bị máng ăn, máng uống dọc theo hành lang, kích thước máng ăn 60 cm x 120 cm, cao phía sau 80 cm, cao phía trước 50 cm, trong lòng máng hình lòng mo. Kích thước máng uống dài x rộng x sâu là 60 cm x 60 cm x 40 cm. Rãnh thoát nước thải thiết kế phía sau rộng 30 cm, sâu 30 cm, độ dốc 5-8%. Ngoài ra cần bố trí thêm hố ủ phân hoặc hầm biogas, hệ thống rèm che cách tầm bò với 1-1,5m, hệ thống cây xanh chống nóng cho bò trong mùa hè, ..vv.

– Tiêu độc, khử trùng và vệ sinh chuồng trại.

– Vệ sinh phòng bệnh: Thực hiện phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Chuồng trại, máng ăn, máng uống, môi trường xung quanh và cơ thể bò phải luôn được sạch sẽ. Định kỳ tẩy uế chuồng trại, khu vực xung quanh chuồng nuôi, phát quang bờ bụi, khơi thông cống rãnh, thu gom xử lý chất thải. Tích cực diệt chuột, dán, ve, ruồi muỗi, hạn chế tối đa các động vật trung gian truyền bệnh vào khu vực chăn nuôi bò.

– Thức ăn nước uống phải đảm bảo sạch sẽ, an toàn vệ sinh.

– Thường xuyên kiểm tra theo dõi đàn bò khi có dấu hiệu biểu hiện không bình thường cần can thiệp ngay.

– Tiêm vacxin phòng bệnh đầy đủ các loại bệnh bắt buộc cho bò 2 lần / năm như: bệnh tụ huyết trùng trâu bò, lở mồm long móng, …

– Chuồng nuôi phải được làm vệ sinh hàng ngày và phải được khử trùng định kỳ theo chế độ phòng bệnh của thú y.

– Sau khi xuất toàn bộ vật nuôi phải tiến hành khử trùng toàn bộ chuồng nuôi theo chế độ tổng vệ sinh và khử trùng trước khi nuôi lứa mới.

– Trường hợp trong chuồng nuôi có vật nuôi bị chết vì bệnh dịch thì phải thực hiện chế độ khử trùng cấp bách theo hướng dẫn của thú y

3. Kỹ thuật nuôi bò nhốt chuồng – Tẩy ký sinh trùng cho bò:

* Đối với ngoại ký sinh trùng:

Sử dụng các loại thuốc có phổ hoạt lực rộng như Neuguvon hoặc Asuntol hòa thành dung dịch tắm hoặc xoa. Pha và sử dụng thuốc Nevugvon với liều phổ biến 1à 25g/lít nước, bổ sung 50ml dầu ăn và 20g xà phòng bột lắc đều trước khi sử dụng. Dùng bình phun đều lên cơ thể bò, đặc biệt là vùng bẹn, nách và yếm. Có thể đeo găng tay, dùng giẻ để bôi thuốc. Không để thuốc bám vào người, quần áo. Không hút thuốc, ăn uống trong khi pha và bôi thuốc.

* Đối với nội ký sinh trùng:

Sử dụng các loại thuốc có phổ hoạt lực rộng như: Levamisole, Tetramisole điều trị nội ký sinh trùng đường ruột và Fasinex điều trị sán lá gan.

Liều lượng: Levamisole 7,5%, dùng 1ml/20kg thể trọng. Fasinex dùng 1 viên /75kg thể trọng. Cách sử dụng: Cho uống, trộn vào thức ăn hoặc tiêm theo hướng dẫn.

4. Kỹ thuật nuôi bò nhốt chuồng – Khẩu phần ăn cho bò:

Để bò có tốc độ lớn nhanh nhất thì lượng thức ăn đảm bảo năng lượng cao được ăn vào hàng ngày là 2,5% trọng lượng cơ thể. Ví dụ, bò nặng 200kg cần khoảng 5kg vật chất khô trong một ngày, còn thức ăn thô xơ khoảng 15 – 20kg. Khẩu phần hoàn chỉnh là đủ tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho bò. Bò có thể tự do lựa chọn sau khi đã trộn lẫn hoàn toàn cả hai loại thức ăn tinh và thô với nhau. Phương pháp cho ăn và tập cho bò ăn thức ăn tinh vô cùng quan trọng. Lúc đầu nên cho bò ăn nhiều thức ăn thô xanh, ít thức ăn tinh để bò làm quen với khẩu phần năng lượng cao. Nếu ngay từ đầu bò ăn nhiều thức ăn tinh có thể bị chết do ngộ độc axít (acidosis). Thức ăn thô xanh cần sử dựng kết hợp với thức ăn tinh để tạo ra một khẩu phần ăn hoàn chỉnh.

Khẩu phần ăn cho bò nhốt chuồng bao gồm: thức ăn thô xanh, phụ phẩm, thức ăn tinh, thức ăn bổ sung khoáng và vitamin. Căn cứ vào nguồn thức ăn sẵn có để lựa chọn các nguyên liệu chính như sau:

* Thức ăn thô xanh: Các loại cỏ băm nhỏ, thức ăn băm nhỏ ủ chua, phụ phẩm nông nghiệp băm nhỏ, phụ phẩm công nghiệp (bã bia, rượu, rỉ mật, bã đậu, bã dứa, vỏ hoa quả) chiếm 55-60% vật chất khô trong khẩu phần.

* Thức ăn tinh hỗn hợp: Các loại Sắn Nghiền, ngô Nghiền, khô dầu lạc, bột keo dậu. Thức ăn tinh hỗn hợp… chiếm 40-45% vật chất khô trong khẩu phần.

Trên cơ sở các loại nguyên liệu thức ăn trên, bổ sung khoáng và vitamin phối hợp thành khẩu phần thức ăn tinh hoàn chỉnh để cho bò ăn theo 4 công thức (xem bảng)

Để tăng năng suất lao động, giảm giá thành thức ăn và tận dụng triệt để nguồn thức ăn nên đầu tư máy băm Nghiền thức ăn vào việc chế biến thức ăn cho bò nhốt.

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi bò thịt

1. Giống :

Giống là một trong những vấn đề quan trọng nhất. Giống khác nhau thì tốc độ sinh trưởng, phát triển, tích lũy thịt, mỡ khác nhau: Con lai của bò Charolaise có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn con lai của bò Hereford và ngược lại, tổ chức mỡ của thịt bò Charolaise thấp hơn thịt bò Hereford. Bò vàng Việt Nam có tỷ lệ thịt xẻ là 42%, tỷ lệ thịt tinh là 31%, trong khi đó bò thịt Charolaise có tỷ lệ thịt xẻ 60%, tỷ lệ thịt tinh là 45%.

Hiện nay trên thế giới nhiều giống bò có tỷ lệ thịt xẻ tới 70%, tỷ lệ thịt tinh trên 50%, giá trị dinh dưỡng thịt rất cao và rất thơm, ngon. Ngoài các giống bò chuyên thịt, ở các cơ sở chăn nuôi bò sữa, người ta cũng chọn lọc những bê đực khỏe mạnh đưa vào nuôi dưỡng với một chế độ thích hợp để vỗ béo và giết mổ. Đây cũng là những nguồn cung cấp sản phẩm thịt bò chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng sản lượng thịt bò. 2. Tuổi :

Trong quy trình vỗ béo và giết mổ, hiện nay người ta thường nuôi bò từ 16 – 24 tháng tuổi với quy trình công nghệ cao để giết mổ.

Tuổi giết mổ khác nhau thì chất lượng thịt cũng khác nhau: Bê và bò tơ cho thịt màu nhạt, ít mỡ, thịt mềm và thơm ngon hơn. Bò lớn tuổi cho thịt màu đỏ, đậm, nhiều mỡ, thịt dai hơn và tất nhiên là không thơm ngon bằng thịt bê tơ. Tỷ lệ các cơ quan nội tạng sẽ giảm theo tuổi và ngược lại độ béo sẽ tăng dần lên.

3. Giới tính :

Thường thì bò cái thớ thịt nhỏ hơn bò đực, mô giữa các cơ ít hơn, thịt vị đậm hơn, vỗ béo nhanh hơn. Ngược lại bò đực có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn bò cái cùng độ tuổi vì bò cái có cơ quan sinh dục phát triển hơn bò đực. Trong quy trình vỗ béo người ta có thể thiến bò đực lúc 7 – 12 tháng tuổi để vỗ béo, nếu bò thiến sớm để vỗ béo thì thịt bò sẽ mềm hơn và béo nhanh hơn.

4. Khối lượng lúc giết mổ :

Khối lượng bò đưa vào giết mổ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : Giống, khả năng tăng trọng, thời điểm tích lũy nạc lớn nhất, chế độ nuôi dưỡng, hệ số tiêu tốn thức ăn, thị trường và giá cả…

5. Dinh dưỡng và phương thức vỗ béo :

Kỹ thuật chăn nuôi thâm canh bò thịt hiện nay là chọn lọc những bê khỏe mạnh của các giống cao sản chuyên thịt, đưa vào nuôi dưỡng với chế độ thâm canh cao để đạt được khối lượng giết mổ cao nhất ở giai đoạn bê sinh trưởng với cường độ cao nhất ( dưới 24 tháng tuổi ). Các khẩu phần ăn khác nhau sẽ cho tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt tinh khác nhau khi giết mổ.

Dù vỗ béo theo phương thức nào, vỗ béo sớm hay vỗ béo muộn, đối với bò thịt trước khi giết mổ bắt buộc phải có công đoạn vỗ béo. Vỗ béo là dùng biện pháp dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng làm cho khối lượng con vật tăng nhanh và phẩm chất thịt được cải thiện. Thời gian vỗ béo tùy thuộc vào phương thức vỗ béo, thức ăn, giống, độ béo của bò. Thời gian vỗ béo quá ngắn thì thịt sẽ nhiều nước, thời gian vỗ béo thích hợp thì chất lượng thịt sẽ cao hơn.

Khẩu phần thức ăn vỗ béo cho bò giàu đạm và nhiều sắt thì thịt bò sẽ đỏ đậm, khẩu phần thức ăn có nhiều bột bắp thì mỡ bò sẽ vàng, thịt thơm ngon và khẩu phần thức ăn có tỷ lệ các phụ phẩm công nghiệp thì thịt bò có thớ lớn và nhiều mỡ giắt ( mỡ giữa các lớp thịt ).

Điều cần chú ý khi nuôi bò thịt

Trong và năm gần đây, ngành chăn nuôi ở Đồng bằng Sông Cửu Long đã có những chuyển biến tích cực, trong đó đáng chú ý là việc khôi phục và phát triển đàn bò địa phương. Ngoài ưu thế về chi phí thức ăn thấp, sử dụng thúc ăn không cạnh tranh với người, giải quyết công lao động nông nhàn. Nghề nuôi bò còn có một ưu thế quan trọng là sản phẩm cuối cùng là bê và thịt có thị trường tiêu thụ ổn định, giá cả bảo đảm cho người chăn nuôi có lãi. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả đạt được cao nhất, người chăn nuôi cần biết những yếu tố cơ bản sau:

Đặc điểm sinh lý :

– Với bò đực : Tuổi bắt đầu phối giống từ 24 – 26 tháng tuổi và thời gian sử dụng phối giống tất nhất là từ 2 – 6 năm tuổi.

– Đối với bò cái : Tuổi thành thục sinh dục 18 – 24 tháng tuổi, chu kỳ động dục trung bình là 21 ngày, thời gian mang thai 9 tháng 10 ngày và thời gian động dục trở lại sau khi sinh con 60 – 70 ngày.

Chọn giống

Chọn những con tốt, thân hình vạm vỡ, mình tròn, phía mông và vai phát triển như nhau giống hình trụ. Nên biết rõ nguồn góc và tính năng SX của đòi bố mẹ.

Một số giống bò được nuôi phổ biến tại Việt Nam :

– Giống bò nội : Bò vàng Việt Nam ( Bosindicus ) .

– Giống bò lai ngoại : Con lai Zêbu ( nhóm bò Zêbu gồm các giống: Redsindhi, Sahiwal, Brah-man đỏ, Brahman trắng, Ongole ).

Chuồng trại

– Xây dựng nơi cao ráo, thoáng mát và có màng lưới bao xung quanh chuồng để chống ruồi, muỗi và các côn trùng khác xâm nhập ( trong chăn nuôi hộ gia đình ).

– Nền cứng, không trơn trượt và có độ dốc để dễ thoát nước.

– Diện tích tối thiểu : 2,5 – 3m2/con bò thịt.

– Máng ăn và máng uống nên làm bằng xi măng đặt theo chiều dài hành lang phân phối thúc ăn.

– Cần có biện pháp xử lý phân để hạn chế ô nhiễm môi trường chung quanh và lây lan cỏ dại.

Thức ăn :

– Nguồn thức ăn chủ yếu của bò gồm các loại cỏ tươi, rơm rạ, cỏ khô, thức ăn xanh thô và củ, quả…

– Ngoài ra nên sử dụng thức ăn ủ chua hoặc rơm được kiềm hóa và thức ăn tinh chế chủ động trong việc tìm thức ăn cho bò.

– Trong chăn nuôi bò thịt, mỗi gia đình cần dành 500 – 1.000m2 đất để trống các loại cỏ như cỏ voi, cỏ sả, cỏ lông tây, cây bình linh… để lấy thức ăn cho bò.

Chăm sóc, nuôi dưỡng, vỗ béo

– Bò cái chửa : Cần cho ăn uống đầy đủ, tránh cày kéo nặng, đặc biệt là ở những tháng chửa cuối cùng. Nhu cầu ăn mỗi ngày là: 25 – 30kg cỏ tươi, 2kg rơm, 1 kg thức ăn tinh và 20 – 30g muối.

– Bò cái nuôi con. Ngoài khẩu phần trên, cần cho thêm các thức ăn củ quả tươi và thức ăn tinh để bò cái tăng khả năng tiết sữa nuôi con.

– Bê con : Tập cho bê con ăn cỏ khô từ tháng thứ 2, cỏ tươi và củ quả từ tháng thứ 4 và cai sữa từ tháng thứ 6. Khi trời nắng ấm nên cho bê con vận động tự do. Nhu cầu ăn mỗi ngày 5 – 10kg cỏ tươi, 0,2 – 0,3kg thức ăn tinh.

– Bê từ 6 – 24 tháng: Trường hợp nuôi chuồng phải thường xuyên cho bò, bê ra sân vận động từ 2-4 giờ/ngày. Nhu cầu ăn một ngày: 10 – 15kg cỏ tươi và cho ăn thêm các thức ăn tận dụng khác như ngọn mía, dây khoai, rơm rạ, cỏ khô, cỏ ủ chua và củ quả thay thế.

– Để có bò thịt đạt khối lượng cuối cùng khi giết thịt từ 250-300kg lúc 24 tháng tuổi cần nuôi vỗ béo bò trong khoảng 80-90 ngày trước khi bán bằng thức ăn tinh 1 kg/con/ ngày.

Hướng Dẫn Làm Chuồng Trại Chăn Nuôi Lợn Rừng Đúng Kỹ Thuật, Nhân Đôi Hiệu Quả Kinh Tế

Lợn rừng hay còn được gọi là lợn lòi thuần hóa được nuôi với quy mô trang trại để cung ứng sản lượng thịt, giống cho thị trường. Về cơ bản, lợn rừng dễ nuôi, nguồn thức ăn phong phú, dễ kiếm, khả năng kháng bệnh tốt hơn lợn nhà nên giảm công sức chăm sóc. Nhưng muốn thành công với mô hình này, trước tiên, bà con cần nắm được quy cách làm chuồng trại chăn nuôi lợn rừng.

Chuẩn bị khu vực xây chuồng trại

Vị trí làm chuồng+ Chuồng nuôi lợn rừng phải làm trên nền đất cao ráo

Tuy ban ngày lợn rừng thích tắm mình trong đầm khiến toàn thân lấm lem nhưng khi ngủ, chúng lại chọn ở nơi cao ráo, sạch sẽ.

Ngoài ra, nếu khu làm chuồng trũng xuống, ngập nước khi mưa thì sẽ phát sinh mầm bệnh, bọ chét, vắt, ký sinh khiến cho đàn lợn dễ bị bệnh, giảm năng suất chăn nuôi.

Xung quanh chuồng nuôi phải đào mương rãnh thoát nước để đảm bảo chuồng trại luôn khô ráo, sạch sẽ.

+ Khu làm chuồng nuôi nên có đất đai màu mỡ

Lợn rừng hiếu động, thích chạy rông, dụi mõm xuống đất, húc phá gốc cây, ủi đất tìm trùn, dế, rau củ quả để ăn… Đó cũng chính là nguồn thức ăn phòng phú cho lợn rừng, giúp giảm chi phí chăn nuôi.

Khu vực đất đai màu mỡ thường có ánh sáng chiếu hài hòa vào buổi sáng, đầy đủ tốt cho sự phát triển của đàn lợn, đồng hóa Ca, P. Ngoài ra ánh sáng tự nhiên còn sát trùng chuồng lợn rừng rất tốt.

Đất đai màu mỡ, cây cối xanh mát cũng là môi trường lý tưởng cho lợn rừng, phù hợp với tập tính của chúng. Thực tế khu vực đất cằn cỗi, bỏ hoang thì sẽ phát sinh nhiều bệnh tật làm lợn chậm phát triển.

+ Chuồng nuôi lợn rừng phải tránh xa khu dân cư

Lợn rừng vốn dữ tợn hơn lợn nhà, thế nhưng bản tính của chúng lại nhút nhát, thấy bóng người sẽ chạy trốn vào nơi kín đáo. Tuy lợn rừng nuôi công nghiệp đã được thuần dưỡng những vẫn khá nhát. Do đó chuồng lợn phải tránh xa khu dân cư để tránh tiếng ồn.

Nếu nuôi với số lượng ít khoảng trên dưới chục con thì không sao nhưng nuôi tập trung số lượng lên đến cả 100, 1000 con lợn rừng thì chất thải rất nhiều. Cần phải làm chuồng xa khu dân cư để tránh ô nhiễm, tránh tiếng ồn từ đàn lợn.

+ Chuồng trại lợn rừng phải gần nguồn nước ngọt và sạch

Nguồn nước sạch vừa cung cấp cho lợn uống hàng ngày, vừa dùng để chế biến thức ăn, tắm rửa cho lợn, tẩy uế chuồng trại chăn nuôi.

Ngoài ra, nước sạch còn dùng để tưới tiêu các loại rau củ quả phục vụ nuôi lợn. Lợn lòi còn rất thích ăn bèo tây, nếu cạnh chuồng nuôi có một ao nước thả bèo thì tiện còn gì bằng.

Nếu không gần nguồn nước sạch thì khi dùng nước giếng khoan, cần đảm bảo chỉ số vi khuẩn chúng tôi không vượt quá 1000 con/lít

+ Làm chuồng lợn rừng gần chợ

Nuôi lợn lòi cạnh chợ để tận dụng các loại rau, củ, quả thừa ở chợ mang về cho lợn ăn hàng ngày. Cách này giúp giảm được một phần đáng kể chi phí thức ăn.

+ Không phát triển mô hình nuôi lợn rừng trên khu chuồng lợn nhà

Không nên tận dụng các khu vực này để nuôi lợn rừng vì mầm bệnh từ lợn nhà có thể tiếp tục lây lan sang cả đàn

Hướng chuồng nuôi

Bố trí chuồng nuôi theo hướng Đông – Tây là tốt nhất. Vị trí này sẽ đón nắng vào buổi sáng, tốt cho sự phát triển của đàn lợn.

Ở miền Bắc và khu vực miền Trung (đặc biệt vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) có thể làm cửa chuồng theo hướng Đông – Nam để tránh gió mùa đông bắc, gió lào.

Vật liệu làm chuồng

Các vật liệu xây dựng chuồng lợn chủ yếu là gạch, gỗ, tre, nước, cột bê tông, mái tôn lạnh, lá cọ lợp mái, lưới thép B40…

Thịt lợn rừng được coi là một “đặc sản” thơm ngon, có giá trị kinh tế cao. Chính vì vậy vài năm trở lại đây mô hình nuôi lợn rừng được phát triển ở nhiều địa phương trên cả nước với 3 cách nuôi phổ biến: Nuôi nhốt chuồng, nuôi bán chăn thả (nuôi trong vòng rào), nuôi chăn thả tự do.

Nuôi thả tự do (thả rông) vốn là cách nuôi được áp dụng phổ biến ở khu vực miền núi với số lượng ít. Lợn rừng đã thuần chủng nhưng được nuôi thả tự do như cách sống trước đây của chúng. Nguồn thức ăn gần như không cần phải để tầm quá nhiều. người nuôi chỉ cần cho lợn ăn thêm cám, ngô xay vào buổi tối.

Hình thức này sẽ ít tốn kém chi phí, thịt chắc, thơm ngon, ít mỡ do được vận động hàng ngày. Đồng thời sức đề kháng của chúng cũng tốt, lợn nái đẻ dễ, nuôi con khỏe mạnh, ít bệnh tật.

Tuy nhiên mô hình này không thể nuôi với số lượng lớn theo quy mô trang trại. Năng suất thấp, thời gian xuất bán lâu. Đàn lợn thả rông thường tìm đi phá hoại hoa màu rất khó quản lý.

Cách nuôi lợn rừng nhốt chuồng phù hợp với hộ dân có diện tích đất hạn chế, các trang trại nuôi ở thành thị, ven đô… Cách này cũng giống với nuôi lợn nhà nhưng diện tích chuồng rộng rãi hơn.

Trong chuồng ngăn thành từng ô bằng sắt, mỗi ô rộng từ 4 – 6m2 để nuôi từ 1 – 2 con hoặc 1 cặp bố mẹ. Nếu là chuồng nuôi sinh sản thì cần diện tích rộng hơn. Với cách nuôi này, lợn lòi vẫn phát triển bình thường nhưng muốn chúng không bị quá mập, quá béo, nhiều mỡ, chất lượng thịt vẫn đảm bảo thì bà con phải áp dụng đúng các kỹ thuật nuôi lợn rừng.

Khi nuôi nhốt chuồng, bà con phải cung cấp đầy đủ nguồn thức ăn vì chúng không có khả năng tự tìm kiếm thức ăn. Như vậy sẽ phải tốn kém thêm một khoản chi phí.

Nuôi nhốt hoàn toàn cũng không phải là cách tốt đối với lợn rừng hậu bị, ngược lại làm giảm sút rõ rệt khả năng sinh sản của chúng.

Nuôi trong vòng rào

Nuôi lợn rừng trong vòng rào (bán chăn thả) là hình thức kết hợp giữa chăn thả tự do và nhốt chuồng hoàn toàn. Cách nuôi lợn rừng này chỉ cần diện tích đất khoảng vài trăm mét vuông, vòng ngoài cùng nhất quây bằng lưới thép B40 chắc chắn, bên trong có một lều nhỏ để lợn trú nắng trú mưa.

Nuôi trong vòng rào, đàn lợn lòi vừa được tắm nắng, đi lại, tìm kiếm thức ăn vừa được quản lý chặt chẽ về số lượng và tình hình dịch bệnh, không phá hoại hoa màu, chất lượng thịt vẫn đảm bảo cung ứng cho thị trường. Chính vì vậy cách này đang là một trong những mô hình nuôi lợn rừng lý tưởng đang được nhiều trang trại, hộ chăn nuôi lựa chọn.

Thiết kế chuồng nuôi lợn rừng

Chuồng nuôi lợn rừng thương phẩm

Xây chuồng lợn rừng nuôi thương phẩm theo cách nuôi trong vòng rào khá đơn giản. Bà con chỉ cần lựa chọn khu đất cao ráo, xung quanh dùng lưới thép B40 để quây kín với chiều cao khoảng 1,8m. Phần chân của lưới thép nên dậm thật chặt hoặc xây cao 1m để lợn không đào đất chui ra ngoài.

Sân thả rông không cần láng xi măng mà để nguyên nền đất, đắp cao 10 – 20cm so với khu vực xung quanh, dậm chắc chắn, nếu thuận tiện thì có thể cho thêm rơm khô và cỏ khô vào trong, trồng thêm cây to để tạo bóng mát.

Ở phía cuối sân chơi, làm một lều nhỏ, sử dụng các vật liệu đơn giản như rơm, lá cọ, lá dừa lợp mái, tre, gỗ, nứa cạo cột lều. Diện tích từ 4 – 6m2, cao từ 1,2 – 1,5m2 để che mưa, che nắng.

Khi thực hiện đúng kỹ thuật nuôi lợn rừng thương phẩm thì lợn phát triển rất nhanh, nếu nhập lợn con nặng 10 -12kg/con thì chỉ sau 3 – 4 tháng, chúng có thể đạt trọng lượng 40 – 50kg/con.

Xây chuồng bằng gạch, nhưng ở phía đầu chuồng và cuối chuồng xây cao gần mái, còn bên trong các ô ngăn chỉ cao trên trên 1,5m. Xung quanh chuồng sử dụng lưới thép B40 để quây tạo sự thông thoáng, thoải mái nhất cho lợn hậu bị. Nền chuồng xây cao từ 20 – 30cm, lát bằng gạch đỏ để thuận tiện cho việc dọn dẹp vệ sinh, tránh bị đọng nước.

Xây chuồng làm 2 khu vực, khu bên trong có mái che, bên ngoài để thông thoáng. Diện tích khoảng 20 – 40m2/chuồng, đủ để nuôi từ 10 – 15 con lợn hậu bị sinh sản.

Chuồng nuôi lợn đẻ

Chuồng lợn rừng đẻ được xây dựng tương tự như lợn hậu bị sinh sản nhưng phân chia thành từng ô để nuôi 1 con lợn sinh sản. Chuồng lợn rừng sinh sản được chia làm 2 ô: ô nhốt bên trong và ô sân chơi bên ngoài.

+ Ô nhốt bên trong: Diện tích khoảng 6m2, xây tường gạch cao khoảng 1,5m. Bên trong có lót ổ đẻ bằng rơm khô hoặc cành cây khô, lá khô để khi lợn đẻ sẽ dùng những nguyên liệu đó làm ổ. Ổ đẻ có mái che, phải cao ráo, tránh mưa tạt, gió lùa.

+ Ô sân chơi bên ngoài: có diện tích khoảng 5m2, dùng lưới B40 quây bên ngoài, cao 1,5m. Sân chơi thường không cần lợp mái che. Nền chuồng lát xi măng hoặc lát gạch, có độ nghiêng khoảng 3 – 5 độ, không trơn trượt, dễ dọn dẹp vệ sinh, không ứ đọng nước. Phần chân lưới tiếp xúc với đất tốt nhất nên xây 1 – 2 viên gạch cho chắc chắn, tránh việc lợn đào đất chui ra.

Máng ăn

Máng ăn cho lợn rừng có thể xây máng ăn cố định, làm máng bằng gỗ hoặc bằng tôn dày.

Máng xây cố định có kích thước: sâu lòng 10cm, rộng lòng 20 – 24cm, xây cao từ 5 – 7cm so với mặt đất để thuận tiện cho việc cọ rửa. Loại máng này thường phù hợp với lợn hậu bị sinh sản và lợn đẻ.

Máng làm bằng tôn hoặc gỗ thường có kích thước: chiều dài:1,8 – 2m, rộng đáy 20cm, rộng miệng 30cm, cao 15cm, độ nghiêng 18cm. Với lợn nuôi thương phẩm, tốt nhất nên làm bằng máng gỗ hoặc máng tôn để tiết kiệm chi phí.

Máng uống

Với lợn nuôi thương phẩm thì có thể tự làm máng uống bằng tôn, đóng chắc chắn hoặc tận dụng các loại xô chậu. Tuy nhiên với lợn rừng thì xô chậu sẽ dễ hỏng.

Với lợn hậu bị, sinh sản thì nên thiết kế hệ thống ti bú tự động để tiết kiệm nước, tránh làm ướt chuồng trại

Thiết kế chuồng trại chăn nuôi lợn rừng đúng với định hướng nuôi sẽ các chủ trang trại tiết kiệm chi phí, dễ quản lý, chăm sóc, năng suất cao. Chúc bà con phát triển tốt và “bội thu” với mô hình chăn nuôi này!

Kỹ Thuật Nuôi Gà Đông Tảo Hiệu Quả Cao

Gà Đông Tảo là loại gà rất nhanh nhẹn, dễ chăm bẵm, thức ăn tương đối giống gà thả vườn. Ít bị nhiễm dịch bệnh, chất lượng thịt thơm ngọt, ít gân, không quá dai. Gà Đông Tảo giống có giá lên đến hai trăm ngàn đồng một con. Kỹ thuật nuôi gà Đông Tảo đơn giản nhất.

Đối với con trống có mã đẹp, chân to bệ vệ có giá trị tận hơn chục triệu đồng. Hiện nay nhu cầu tiêu thụ tại các nhà hàng đang tăng cao. Vì thế nuôi giống gà này đang là hướng đi mới để phát triển kinh tế của nhiều hộ gia đình.

Xin giới thiệu tới bà con, quý vị và các bạn về đặc điểm của gà Đông Tảo và kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc loại gà này. Mời các bạn theo dõi qua bài viết sau đây.

Đặc điểm và kỹ thuật nuôi gà Đông Tảo

Gà Đông Tảo – loại gia cầm quý của nước ta. Quan trọng cũng là nước duy nhất có trên thế giới. Tính trạng nổi trội của loại gia cầm này là chúng sở hữu cặp chân xấu xí. Đôi chân to và thô. Khi lớn hết cỡ đạt nặng trên bốn ký rưỡi với con trống. Và trên ba ký rưỡi với con mái.

Chúng to con, dáng bệ vệ, da đỏ, cặp giò vững chắc. Con trống có màu lông bình thường là màu tối như tím và màu mận.

Những nơi da hở đều có màu đỏ. Con không ngày tuổi có lông trắng đục, lâu đổi lông. Lúc đạt trọng lượng tối đa nặng hơn năm cân, con mái nặng hơn bốn cân.

Thịt được đánh giá cao với phần ức nhiều, thịt đùi ít gân, không bị dai. Giống gà này dễ nuôi, dễ thít nghi với nhiều vùng miền. Dễ dàng nhân giống, cho hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần so với các giống khác.

Rất phù hợp với bà con nông dân. Không chi làm thức ăn mà với vóc dáng đẹp nên chúng còn được nuôi làm cảnh.

Với mô hình nuôi gà Đông Tảo tổng quan là đầu tư đầu vào khá cao. Nhưng theo như thực tế hiện bây giờ nếu bà con mạnh dạn tham gia thì cũng được hơn so với các mô hình khác. Do loại gà này đang có sức hấp dẫn, nhu cầu cũng cao. Thị trường cũng đang khá chuộng mô hình này.

Muốn cho đạt hiệu quả cao thì mô hình nuôi gà Đông Tảo cũng là mô hình mới. Cũng chưa được áp dụng nhiều. Yêu cầu đầu tiên cho những người muốn theo mô hình này là phải đảm bảo áp dụng về tiêm phòng.

Trong khi nuôi, một trong những bước cần để ý đó là chuồng nuôi. Gà Đông Tảo rất linh hoạt nên nếu có quỹ đất rộng. Các bạn nên nuôi bằng hình thức thả vườn nhưng nếu diện tích nhỏ các bạn có thể nuôi theo hình thức công nghiệp.

Nhưng cần chắc chắn đủ lớn để gà chạy nhảy thoải mái. Như vậy mới giữ được chất lượng thịt chắc, ngon và hợp với đặc tính của chúng.

Chuồng nuôi gà Đông Tảo phải có lưới che chắn gió, vị trí làm chuồng phải giữ nhiệt độ không chênh nhau cao trong ngày. Tránh được các loài vật tấn công như chó, mèo, chuột, dễ chăm sóc và quản lý.

Nền chuồng gà Đông Tảo cần làm cao hơn mặt đất để không bị tích nước. Lót trấu hoặc mùn bào cưa bên dưới để giữ ấm và làm êm. Mỗi tháng cần thay mới lớp rải để đảm bảo vệ sinh chuồng nuôi tránh xảy ra dịch bệnh trên gà.

Nên bố trí các máng ăn và bình nước uống đều nhau để tránh tranh giành. Nên dùng loại máng tròn, đường kính mười lăm cm. Trung bình 30-40 con một máng, treo cao mười phân so với nền chuồng.

Với chuồng nuôi gà sinh sản nên chú ý lượng nuôi khoảng bốn đến năm con mỗi mét vuông. Gà trống và gà mái nuôi chung nhưng cần giữ tỷ lệ nhất định. Tốt nhất là bốn mái một trống.

Các bạn có thể tận dụng xô đựng nước, cho rơm vào lưng xô để làm ổ cho gà ấp trứng. Các ổ đẻ được đặt gần nhau ở góc chuồng hoặc xung quanh.

Con mái Đông Tảo đẻ lúc được khoảng năm tháng tuổi. Khi cho đẻ rồi ấp tại ổ thì trong mười tháng trung bình đẻ được bảy mươi quả mỗi con. Nếu đem đi ấp tại lò thì có thể đẻ được một trăm quả mỗi năm.

Tuy đó loại gà Đông Tảo này rất kém trong việc ấp nên các bạn nên chọn cách thu lại rồi ấp tại lò. Để giữ cho tỷ lệ nở cao và thu được nhiều con giống.

Lúc lấy gà Đông Tảo về phải làm sẵn chuồng úm. Chuồng nên kín, bọc dùng lưới mắt cáo để tránh chuột. Chuồng cần có đủ sáng, có bóng sưởi, tránh gió mưa. Điều này rất quan trọng vì sức đề kháng kém dễ nhiễm bệnh của gà con.

Gà Đông Tảo con mới nở nên ủ bóng giữ ấm cả ngày. Khi gà được một ngày tuổi chỉ cho uống nước và nhỏ vacxin cúm. Tuyệt đối không cho gà một ngày tuổi ăn nhất là thức ăn nhiều đạm dễ gây tổn thương hệ tiêu hóa chưa phát triển. Gây đi ngoài và các bệnh đường tiêu hóa.

Với gà Đông Tảo con được một tháng nên ủ điện từ chiều tối đến sáng. Nếu thời tiết lạnh thì để cả ngày giữ nhiệt với bóng đèn dây tóc 40W.

Trong thời điểm gà Đông Tảo được một tới hai tháng tuổi vẫn nên bổ sung vitamin B1 và C trong khẩu phần ăn.

Khi con giống ngoài hai tháng mình có thể dễ dàng nhận ra con mái và con trống. Đặc điểm của gà Đông Tảo nhận dạng là con trống có màu lông mật và con mái có màu lông vàng nhạt.

Thức ăn và phòng bệnh cho gà Đông Tảo

Thức ăn là bắp và rau khoai lang băm nhỏ, thỉnh thoảng trộn bổ sung thêm cám ngô. Thỉnh thoảng bổ sung chất tanh như cá, định kỳ nửa tháng hoặc một tháng. Chú ý dùng cá tép nhỏ để tránh xương và hấp chín xong dằm ra trộn cùng cám cho ăn.

Trong thời gian hai tháng đầu thì có thể cho gà Đông Tảo thức ăn hỗn hợp để cho có đủ chất, gà con có đủ lực để sinh trưởng. Đầu tiên sẽ hình thành con gà khỏe mạnh hơn.

Gà Đông Tảo từ ba tháng trở đi tăng trưởng trọng lượng rất nhanh. Gà ăn tốt, cơ bắp có màu đỏ, bắt đầu trổ lông và tập gáy. Thức ăn của chúng cũng tương tự như các loại gà khác, chủ yếu là lúa, bắp tẻ nguyên hạt, lúa mầm.

Nên bổ sung thêm thức ăn và đạm để tránh gà Đông Tảo mổ lông nhau.

Phòng bệnh thì từ 0 đến ba ngày mình nhỏ vaccin phòng cúm cho gà Đông Tảo. Ở một tuần nhỏ vaccin newcastle hệ 1. Ngoài mười ngày nhắc lại vacxin newcastle hệ 2.

Chuồng trại có mái che, tấm chắn lưới đảm bảo chắn gió buổi tối. Thường ngày vẫn thả để chạy nhảy, có sân chơi và ánh nắng phát triển tốt. Quy định nuôi gà trưởng thành cỡ ba đến bốn con một mét vuông.

Nuôi gà Đông Tảo thu nhập cao

Giá gà giống một ngày tuổi khoảng một trăm rưỡi một con. Và ba trăn ngàn đối với gà một tháng tuổi được tiêm phòng dịch bệnh đầy đủ. Những con gà có mã tốt thì giá cao hơn. Giá gà giống trưởng thành từ hai triệu rưỡi đến ba triệu một con.

Với giá bán như vậy nếu thực hiện tốt quy trình chăn thả, chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng sẽ giúp bà con nhanh chóng đạt hiệu quả kinh tế.

Tầm chục năm nay gà Đông Tảo luôn giữ giá cạnh tranh. Nhất là mỗi khi cuối năm đến cơn sốt gà lại bắt đầu. Giá gà ngày này luôn ở mức cao ngất ngưởng, có khi đến cả chục triệu đồng mỗi con.

Loại gà này vốn được coi là giống duy nhất ở Việt Nam, từ xưa chỉ đem để dâng vua. Cùng năm tháng giống gà này suy giảm dần.

Trang trại gà của anh Thắng năm vừa qua đã xuất bán trên tám tấn gà thương phẩm và mười lăm ngàn con giống. Chưa kể những con có ngoại hình đẹp, khách hàng sẵn sàng mua với giá trên chục triệu đồng mỗi con để mang biếu tặng.

Thu nhập sau khi trừ hết mọi chi phí anh lãi hơn một tỷ đồng.

Bén duyên với gà Đông Tảo

Việc nuôi gà của anh cũng đến từ cái duyên. Do một lần được tình cờ biết đến và cũng yêu thích say mê loại gà này.

Khoảng 90 % các hộ gia đình ở Đông Tảo nuôi gà Đông Tảo nên có một hạn chế là không nhà nào nuôi được nhiều. Nuôi mang tính chất nhỏ lẻ, manh mún. Chính vì vậy rất khó kiểm soát về chất lượng con giống, về hình thức.

Chính vì nuôi theo phương pháp bầy đàn, xô bồ nên có hiên tượng cận huyết. Vì vậy tỷ lệ gen trội không nhiều. Anh đã tiến hành chia đàn gà theo gia đình, phả hệ. Bên cạnh đó cung tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, thụ tinh cho gà của gia đình.

Hiệu quả trông thấy rõ ràng là tỷ lệ gà nở tăng lên. Gà có sức đề kháng tốt hơn. Chi phí thức ăn, thuốc kháng sinh cũng giảm.

Đó cũng chính là lý do hợp tác xã gà Đông Tảo ra đời. Giúp đảm bảo nguồn giống ổn định và giá cả cũng như đầu ra cho người nuôi.

Chính từ tình yêu, niềm say mê của mình với con vật truyền thống của địa phương. Đã giúp anh vươn lên làm giàu.

Chuyên gia: Quang Hưng

Cập nhật thông tin chi tiết về Kỹ Thuật Làm Chuồng Và Chăm Sóc Gà Rừng Cho Hiệu Quả Cao trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!