Xu Hướng 3/2024 # Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

19/08/2012

Nằm cách trung tâm thành phố Hà Tĩnh chừng 20km về phía Tây Nam thuộc địa phận hành chính của ba huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Hương Khê và giáp tỉnh Quảng Bình về phía Nam, Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ có tên đầy đủ là “Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia vùng rừng hồ Kẻ Gỗ”, được xác lập bởi quyết định số 970/TTg ngày 28-12-1996 của Chính phủ, có tọa độ địa lý 105º50′ – 106º07′ kinh độ Đông và 18º00′ – 18º09′ vĩ độ Bắc với tổng diện tích tự nhiên 24.801ha.

Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ – Ảnh: nguồn chúng tôi

Nguyên “Kẻ Gỗ” là tên của một làng Việt cổ thuộc xã Mỹ Duệ xưa (nay thuộc xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh), nằm dọc theo hai bờ sông Rào Cái (còn gọi là sông Ngàn Mọ), nơi hàng trăm khe suối từ dãy Trường Sơn đổ về quá nhanh và mạnh trong mùa mưa đã trở thành tai ương cho cả vùng phía Nam Hà Tĩnh. Để chế ngự những hiểm họa từ thiên nhiên, ngay từ năm 1976 sau khi hòa bình lập lại, công trình đại thủy nông hồ Kẻ Gỗ đã được khởi công nhằm cải tạo môi trường sinh thái, vô hình trung đã tạo nên một vùng cảnh quan thiên nhiên rộng lớn, điểm du lịch sinh thái kỳ thú trên quê hương Hà Tĩnh…

Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia vùng rừng hồ Kẻ Gỗ có tổng diện tích 35.159ha, trong đó gồm 24.801ha khu bảo tồn và 10.358ha rừng phòng hộ. Nơi đây thảm thực vật phong phú được bao phủ bởi rừng hỗn giao thường xanh, đặc trưng cho nhiều luồng thực vật của khu hệ thực vật bản địa Bắc Việt Nam – Nam Trung hoa, luồng thực vật Indonesia – Malaysia và luồng thực vật Hymalaya với hơn 40 loài cây thân gỗ, nhiều loại thực vật qúy như Táu, Gõ, Chò chỉ, Kim giao, Sến, Lát hoa…, nhiều loại cây gỗ có tên trong Sách đỏ Việt Nam như Lim xanh, Sến mật, Gụ, Vàng tâm, Giổi, Trường, Trín, Bời lời vàng…

Rừng thuộc Khu BTTN Kẻ Gỗ – Ảnh: nguồn chúng tôi

Theo số liệu thống kê, hiện tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ có 567 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 367 chi và 117 họ, phổ biến tại tầng cây bụi có các loại cây trong họ Cau dừa với các loài chủ yếu như Lá nón, Song, Mây, Cau rừng, Lụi…, tại tầng thảm tươi có Quyết, Bồn bồn và các loài họ Rô… Rừng Kẻ Gỗ cũng là quê hương của các loài mộc lan, phong lan đẹp và qúy như Quế hương, Tai tượng, Tai trâu, Đuôi chồn, Phượng vỹ, Nghinh xuân…

Chim tại Khu BTTN Kẻ Gỗ – Ảnh: nguồn chúng tôi

Hệ động vật tại khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ cũng rất phong phú, cho tới gần đây đã phát hiện 392 loài động vật có xương sống thuộc 99 họ, 47 loài thú, 298 loài chim, 100 loài bò sát và lưỡng cư… Đã có 18 loài thú được đưa vào Sách đỏ Việt Nam và thế giới, một số loài như Voi, Bò tót, Hổ có thể đã biến mất hoặc số lượng quần thể của chúng bị suy giảm đáng kể, một số loài có giá trị bảo tồn khác như Vượn má hung, Gấu, Tê tê, Sóc bay… cũng trở nên hiếm hoi do nạn săn bắn bừa bãi… Tại đây cũng đã tìm thấy quần thể của 5 loài chim đặc hữu quan trọng có vùng phân bố hẹp, đó là Gà lôi lam mào đen, Gà lôi Hà Tĩnh, Trĩ sao, Khướu mỏ dài và Chích chạch mỏ xám, trong đó Gà lôi lam mào đen và Gà lôi Hà Tĩnh là hai loài bị đe dọa tuyệt chủng toàn cầu.

Hồ Kẻ Gỗ là hồ nước lớn nhất tỉnh Hà Tĩnh được xây dựng trên lưu vực sông Rào Cái, giữa các sườn đồi, núi thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là công trình ngăn lũ, có tác dụng tạo nguồn sinh thủy cho hệ thống thủy lợi, điều tiết dòng chảy của các hồ đập như hồ Kẻ Gỗ, hồ Bộc Nguyên và sông Rác, phục vụ tưới tiêu cho hơn 21.136ha đất canh tác của các cư dân hạ nguồn.

Đập chính hồ Kẻ Gỗ – Ảnh: Nguyễn Viết Hiện (nguồn chúng tôi

Nguyên từ đầu thế kỷ XX, trong nỗ lực chế ngự dòng sông tai quái này, người Pháp đã có quy hoạch thiết kế hồ và cũng đã khởi công một số hạng mục nhưng công trình đã bị bỏ dỡ do chiến tranh thế giới lần thứ hai và tiếp sau là cuộc chiến tranh Đông Dương. Mãi đến sau khi đất nước thống nhất, các nhà thiết kế thủy lợi Việt Nam đã hoàn chỉnh thiết kế và khởi công xây dựng từ năm 1976, đến năm 1983 mới cơ bản hoàn thành các hạng mục chính và đến năm 1988 thì toàn bộ hệ thống được đưa vào sử dụng.

Là một công trình nhân tạo nằm ở độ cao 8m, hồ Kẻ Gỗ gồm 1 đập chính bằng đất đồng chất cao 37,4m, dài 970m và 3 đập phụ cùng 3 tràn xã lũ (tràn Dốc Miếu, tràn trong cống và tràn sự cố). Chiều dài hồ gần 29km với đoạn rộng nhất gần 3km, dung tích hữu ích 345 triệu mét khối nước và mực nước hồ đạt đến độ sâu chừng 20m. Công trình thủy lợi này đã trở thành điểm nhấn quan trọng trong tổng thể khu bảo tồn thiên nhiên thuộc loại lớn nhất miền Trung. Nước ở hồ Kẻ Gỗ theo kênh chính rộng hơn 10m, dài 17,2km và hệ thống kênh nhánh dài 110km đã tưới tiêu cho hơn 21.136ha đất canh tác thuộc các huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà và thành phố Hà Tĩnh.

Hồ Kẻ Gỗ đẹp lãng mạn với những ốc đảo nhỏ – Ảnh: nguồn chúng tôi

Sự ra đời của hồ Kẻ Gỗ đã góp phần tích cực cải tạo môi trường, ngoài việc biến vùng đất cát trắng và thường xuyên hạn hán ở hạ nguồn thành khu canh tác với mảng màu xanh tươi tốt, còn cung cấp nguồn thủy sản dồi dào, tạo nên vùng cảnh quan thiên nhiên rộng lớn, mở ra hướng phát triển du lịch sinh thái lý thú ở dải đất miền Bắc Trung bộ nhiều nắng, gió…

Có lẽ nhiều người trong cả nước biết đến cái tên “Kẻ Gỗ” qua ca khúc “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ” mang nặng tâm tình người Hà Tĩnh của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý được chuyển tải mượt mà bởi giọng ca truyền cảm của nghệ sĩ nhân dân Thu Hiền. Tuy ra đời với mục đích phục vụ thủy lợi nhưng nhờ địa thế cùng cảnh sắc thiên nhiên độc đáo, hồ Kẻ Gỗ cùng với khu bảo tồn thiên nhiên đã nhanh chóng trở thành điểm đến hấp dẫn không chỉ với các nhà nghiên cứu khoa học trong, ngoài nước mà còn cả với khách du lịch gần, xa.

Mặt hồ như chiếc gương lớn – Ảnh: nguồn chúng tôi

Được bao bọc bởi rừng xanh bạt ngàn, mặt nước hồ Kẻ Gỗ như một chiếc gương lớn phản chiếu ánh nắng lung linh, in rõ mây trời cùng màu xanh tươi mát của cây lá đã tạo nên một bức tranh yên bình và thơ mộng. Giữa hồ đó đây còn điểm xuyết nhiều ốc đảo nhỏ như những thế giới huyền bí, khêu gợi trí tò mò… Với khí hậu quanh năm mát mẻ, du khách đến đây có thể thăm thú tìm hiểu rừng, lội bộ khám phá những con suối ngoằn nghèo hay những hang động nằm sâu trong rừng, chiêm ngắm các loài hoa dại khoe sắc cùng các loài phong lan vương giả…

Tham quan khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, được ngồi trên ca-nô chạy dọc theo lòng hồ ngắm nhìn những vạt rừng xanh ngắt lướt qua tầm mắt, du khách tưởng như đang được dạo chơi trên dòng Amazon của đất nước Nam Mỹ xa xăm… Đến đây, du khách không chỉ mãn nhãn với sông nước, mây trời, với cỏ cây hoa lá, chim muông… mà còn thỏa lòng với bữa tiệc thịt rừng hay cá hồ được chế biến đơn giản nhưng cũng đủ làm say lòng bao lữ khách… Đặc biệt ấn tượng phải kể đến những phút giây trải nghiệm lý thú khi được lặn hụp giữa những vùng khe cạn trong vắt, thoải mái trong tư thế trần trụi giữa mênh mang đất trời, để cho dòng nước mát dịu dàng vuốt ve thân thể, cảm giác gặp lại tuổi thơ thật lạ lùng, đơn sơ mà thánh thiện đến không ngờ…

Du khách đến với hồ Kẻ Gỗ – Ảnh: nguồn chúng tôi

Trong nỗ lực đưa Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia vùng rừng hồ Kẻ Gỗ vào phục vụ du lịch, ngành du lịch Hà Tĩnh hiện đang triển khai các dự án, đầu tư cơ sở hạ tầng cùng hệ thống các dịch vụ để biến nơi đây thành khu du lịch sinh thái tổng hợp với nhiều loại hình dịch vụ giải trí, từ các khu thể thao đa môn, xây dựng vườn thú, vườn chim, vườn cây cảnh… đến vận dụng lợi thế tự nhiên để tổ chức các chương trình đua thuyền, lướt ván, câu cá, leo núi…

Hiện Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ đang phải đối mặt với nạn chặt phá rừng và săn bắt động vật hoang dã, đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến đa dạng sinh học… Hy vọng tình trạng này sẽ sớm được khắc chế để trong tương lai gần, cùng với việc phát triển du lịch bền vững, nơi đây sẽ trở thành điểm đến thân thiện, hấp dẫn không chỉ cư dân Hà Tĩnh mà còn cả bạn bè khắp bốn phương…

Trung Tâm Bảo Tồn Thiên Nhiên Việt

Khuôn mặt viền trắng của lũ Chà vá chân nâu lấp ló dưới tán rừng Khe Nước Trong (Lệ Thủy, Quảng Bình). Từ xa, tiếng Vượn đen má trắng vang lên thánh thót trong buổi sáng tinh mơ yên ả. Lang thang trên mặt đất là Mang lớn, Mang Trường sơn, và Saola – tất cả mới chỉ được khoa học biết đến từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Những loài này cùng nhiều loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao khác vẫn hiện hữu nơi đây, một viên ngọc quý về đa dạng sinh học trên trái đất.

Nhưng Khe Nước Trong, cũng như nhiều khu rừng khác của Việt Nam, không còn là thiên đường nguyên sơ nữa. Loài Gà lôi lam mào trắng (Gà lôi lam) đặc hữu ở rừng đất thấp miền Trung Việt Nam, đã không xuất hiện trong tự nhiên từ năm 2000.

Loài trĩ xinh đẹp này, con trống lông màu xanh lam lấp lánh, mặt đỏ với mào trắng nổi bật, rất hiếm trong tự nhiên, chuyên sống ở rừng ẩm thường xanh trên đất thấp. Gà lôi lam được mô tả lần đầu tiên năm 1896, sau đó được các nhà điểu học người Pháp ghi nhận trong những năm 1920 – 1930, rồi “biến mất” hơn 60 năm, đến năm 1996 mới tái xuất, và gần như ngay sau đó lại “bặt vô âm tín”.

Điều này cũng không quá bất ngờ, bởi vì vùng phân bố của Gà lôi lam với trung tâm là tỉnh Quảng Trị, đã bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến tranh kết thúc vào năm 1975. Sau đó, dân số và nhu cầu đất nông nghiệp ngày càng tăng lại thu hẹp hơn nữa diện tích sinh cảnh phù hợp cho Gà lôi lam. Nhiều khu rừng, mặc dù trông có vẻ nguyên sơ, nhưng hầu như vắng bóng chim, thú do nạn săn bẫy, buôn bán trái phép động vật hoang dã. Quần thể Gà lôi lam hoang dã giảm mạnh, phân mảnh, và có thể đã tuyệt chủng; các cá thể cuối cùng có lẽ đã là nạn nhân của những tuyến bẫy ngày đêm càn quét trong rừng.

May mắn thay, trong những năm 1920-1930, các nhà điểu học đã chuyển ít nhất 14 cặp Gà lôi lam về Pháp. Quần thể xa xứ này phát triển tốt, và hiện hơn 1.000 con đang được nuôi tại các vườn thú, trong đó có Vườn thú Hà Nội, và các bộ sưu tập trên thế giới. Một số cá thể không còn thuần chủng, nhưng các nhà khoa học đang tập trung quản lý, bảo tồn tốt nhất nguồn gen hiện có và lên kế hoạch nhân nuôi bán hoang dã loài này. Việc nhân nuôi cần ít nhất từ năm đến bảy năm. Nếu thành công, những cá thể đó có thể được thả lại tự nhiên, trở thành quần thể hoang dã mới hoặc bổ sung cho các quần thể còn sót lại.

Dĩ nhiên, môi trường hoang dã phải được chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận Gà lôi lam. Hiện nay, các nhà bảo tồn vẫn đang gắng sức tìm kiếm Gà lôi lam trong tự nhiên, đồng thời bảo vệ sinh cảnh phù hợp còn lại. Một trong các mối đe dọa lớn nhất đối với việc tái thả động vật hoang dã chính là tình trạng săn bẫy, vì vậy Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt đang cùng với các đối tác tập trung ngăn chặn săn bẫy tại các khu vực quan trọng đối với Gà lôi lam mào trắng, như Khe Nước Trong, Bắc Hướng Hóa, Đăkrông, Phong Điền và Kẻ Gỗ.

Trung tâm bảo tồn Thiên nhiên Việt cũng dự kiến xây dựng trạm nhân nuôi bảo tồn Gà lôi lam đầu tiên ở Việt Nam, kết hợp giáo dục môi trường, trên diện tích năm hécta tại tỉnh Quảng Bình. Hiện nay, các chuyên gia quốc tế đang giúp tuyển chọn đội ngũ gà bố mẹ tốt nhất cho chương trình nhân nuôi tại Việt Nam. Năm 2024, Vườn thú Hà Nội nhận thêm bốn con giống từ châu Âu để nhân giống với hậu duệ của con trống hoang dã duy nhất bắt được ngoài tự nhiên từ năm 1997.

Tuy nhiên, xây dựng nguồn giống bền vững chỉ là bước khởi đầu. Việc tái thả sẽ mất nhiều thời gian; chắc chắn chỉ một phần trong số Gà được thả ra có thể sống sót. Nhưng Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt cùng các đối tác đã sẵn sàng cam kết lâu dài. Trong năm Đinh Dậu 2024, trạm nhân nuôi bảo tồn Gà lôi lam mào trắng đầu tiên sẽ được xây dựng, ban đầu chỉ với quy mô nhỏ, nhưng hy vọng đến năm Kỷ Dậu 2029, Gà lôi lam mào trắng sẽ có cơ hội sinh sôi và phát triển ngay trên chính quê hương mình.

Điều cốt lõi trong việc đưa loài chim hoang dã này về quê hương là việc bảo vệ và phục hồi rừng tại Việt Nam. Rừng cung cấp các dịch vụ cơ bản cho cuôc sống, không khí sạch, nước sạch và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Nhưng đối với Việt Nam, rừng còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế – nó gắn liền với sự trường tồn và vẻ đẹp độc đáo của cảnh quan và nền văn hóa Việt. Một trong các biểu tượng cho sự tồn tại kiên cường đó là hình ảnh một loài chim xinh đẹp, có bộ lông lấp lánh xanh, sung sướng tận hưởng những cơn mưa nhiệt đới mang lại sự sống cho muôn loài!

Nguồn: Trung tâm bảo tồn Thiên nhiên Việt (Tháng 5, 2024) – Bài đăng trên Tạp chí của hàng không quốc gia Việt Nam

Câu Chuyện Về Gà Lôi Lam Mào Trắng – Trung Tâm Bảo Tồn Thiên Nhiên Việt

Khuôn mặt viền trắng của lũ Chà vá chân nâu lấp ló dưới tán rừng Khe Nước Trong (Lệ Thủy, Quảng Bình). Từ xa, tiếng Vượn đen má trắng vang lên thánh thót trong buổi sáng tinh mơ yên ả. Lang thang trên mặt đất là Mang lớn, Mang Trường sơn, và Saola – tất cả mới chỉ được khoa học biết đến từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Những loài này cùng nhiều loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao khác vẫn hiện hữu nơi đây, một viên ngọc quý về đa dạng sinh học trên trái đất.

Nhưng Khe Nước Trong, cũng như nhiều khu rừng khác của Việt Nam, không còn là thiên đường nguyên sơ nữa. Loài Gà lôi lam mào trắng (Gà lôi lam) đặc hữu ở rừng đất thấp miền Trung Việt Nam, đã không xuất hiện trong tự nhiên từ năm 2000.

Loài trĩ xinh đẹp này, con trống lông màu xanh lam lấp lánh, mặt đỏ với mào trắng nổi bật, rất hiếm trong tự nhiên, chuyên sống ở rừng ẩm thường xanh trên đất thấp. Gà lôi lam được mô tả lần đầu tiên năm 1896, sau đó được các nhà điểu học người Pháp ghi nhận trong những năm 1920 – 1930, rồi “biến mất” hơn 60 năm, đến năm 1996 mới tái xuất, và gần như ngay sau đó lại “bặt vô âm tín”.

Điều này cũng không quá bất ngờ, bởi vì vùng phân bố của Gà lôi lam với trung tâm là tỉnh Quảng Trị, đã bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến tranh kết thúc vào năm 1975. Sau đó, dân số và nhu cầu đất nông nghiệp ngày càng tăng lại thu hẹp hơn nữa diện tích sinh cảnh phù hợp cho Gà lôi lam. Nhiều khu rừng, mặc dù trông có vẻ nguyên sơ, nhưng hầu như vắng bóng chim, thú do nạn săn bẫy, buôn bán trái phép động vật hoang dã. Quần thể Gà lôi lam hoang dã giảm mạnh, phân mảnh, và có thể đã tuyệt chủng; các cá thể cuối cùng có lẽ đã là nạn nhân của những tuyến bẫy ngày đêm càn quét trong rừng.

 May mắn thay, trong những năm 1920-1930, các nhà điểu học đã chuyển ít nhất 14 cặp Gà lôi lam về Pháp. Quần thể xa xứ này phát triển tốt, và hiện hơn 1.000 con đang được nuôi tại các vườn thú, trong đó có Vườn thú Hà Nội, và các bộ sưu tập trên thế giới. Một số cá thể không còn thuần chủng, nhưng các nhà khoa học đang tập trung quản lý, bảo tồn tốt nhất nguồn gen hiện có và lên kế hoạch nhân nuôi bán hoang dã loài này. Việc nhân nuôi cần ít nhất từ năm đến bảy năm. Nếu thành công, những cá thể đó có thể được thả lại tự nhiên, trở thành quần thể hoang dã mới hoặc bổ sung cho các quần thể còn sót lại.

Dĩ nhiên, môi trường hoang dã phải được chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận Gà lôi lam. Hiện nay, các nhà bảo tồn vẫn đang gắng sức tìm kiếm Gà lôi lam trong tự nhiên, đồng thời bảo vệ sinh cảnh phù hợp còn lại. Một trong các mối đe dọa lớn nhất đối với việc tái thả động vật hoang dã chính là tình trạng săn bẫy, vì vậy Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt đang cùng với các đối tác tập trung ngăn chặn săn bẫy tại các khu vực quan trọng đối với Gà lôi lam mào trắng, như Khe Nước Trong, Bắc Hướng Hóa, Đăkrông, Phong Điền và Kẻ Gỗ.

Trung tâm bảo tồn Thiên nhiên Việt cũng dự kiến xây dựng trạm nhân nuôi bảo tồn Gà lôi lam đầu tiên ở Việt Nam, kết hợp giáo dục môi trường, trên diện tích năm hécta tại tỉnh Quảng Bình. Hiện nay, các chuyên gia quốc tế đang giúp tuyển chọn đội ngũ gà bố mẹ tốt nhất cho chương trình nhân nuôi tại Việt Nam. Năm 2024, Vườn thú Hà Nội nhận thêm bốn con giống từ châu Âu để nhân giống với hậu duệ của con trống hoang dã duy nhất bắt được ngoài tự nhiên từ năm 1997.

Tuy nhiên, xây dựng nguồn giống bền vững chỉ là bước khởi đầu. Việc tái thả sẽ mất nhiều thời gian; chắc chắn chỉ một phần trong số Gà được thả ra có thể sống sót. Nhưng Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt cùng các đối tác đã sẵn sàng cam kết lâu dài. Trong năm Đinh Dậu 2024, trạm nhân nuôi bảo tồn Gà lôi lam mào trắng đầu tiên sẽ được xây dựng, ban đầu chỉ với quy mô nhỏ, nhưng hy vọng đến năm Kỷ Dậu 2029, Gà lôi lam mào trắng sẽ có cơ hội sinh sôi và phát triển ngay trên chính quê hương mình.

Điều cốt lõi trong việc đưa loài chim hoang dã này về quê hương là việc bảo vệ và phục hồi rừng tại Việt Nam. Rừng cung cấp các dịch vụ cơ bản cho cuôc sống, không khí sạch, nước sạch và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Nhưng đối với Việt Nam, rừng còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế – nó gắn liền với sự trường tồn và vẻ đẹp độc đáo của cảnh quan và nền văn hóa Việt. Một trong các biểu tượng cho sự tồn tại kiên cường đó là hình ảnh một loài chim xinh đẹp, có bộ lông lấp lánh xanh, sung sướng tận hưởng những cơn mưa nhiệt đới mang lại sự sống cho muôn loài!

Nguồn: Trung tâm bảo tồn Thiên nhiên Việt (Tháng 5, 2024)

– Bài đăng trên Tạp chí của hàng không quốc gia Việt Nam

Dược Liệu Từ Thiên Nhiên

– Bào ngư hầm nấm đông cô hay Bào ngư hầm thuốc Bắc Sài Thành

– Bào ngư là 1 trong những loại thực phẩm vô cùng bổ dưỡng, trong bào ngư chứa 25 loại vitamin và khoáng chất bao gồm B12 và Omega3.

– Một trong những giá trị lớn của Bào ngư là bổ âm, bổ phổi, tăng khí, bổ thận, tăng cường sinh lực cho nam giới,…

Có 2 cách chế biến bào ngư thế nào để cơ thể hấp thu được chất dinh dưỡng

– Cách 1 chắc hẳn nhiều người cũng đã áp dụng: Bào ngư hầm Nấm đông cô, câu kỷ tử, Táo đỏ, nhãn nhục.

– Cách 2: Bào ngư hầm thuốc Bắc ( bao gồm: câu kỷ tử, Đảng sâm, Hoài sơn, đại táo, liên nhục, nhãn nhục, Hồng táo, Hoàng kỳ, mạch môn đông)

Theo đông y thì các vị trên có công dụng:

– Hoàng kỳ bổ khí, chữa cơ thể suy nhược, có lợi cho đường tiểu, rất tốt cho nam giới.

– Táo đỏ(Hồng táo)đại táo, ( táo đen) nhãn  nhục:  giúp an thần, chữa lo âu, mất ngủ, trị chứng hồi hộp, hay quên,…ngoài ra trong táo đỏ còn chứa nhiều vitamin.

– Câu kỷ tử: bổ thận, sáng mắt

– Mạch môn đông: chữa ho, bổ phổi 

– Hoài Sơn: bổ tỳ, dưỡng vị, sinh Tân, ích phế.

– Đẳng sâm: bổ máu, giúp tăng Hồng cầu

– Đông trùng hạ thảo: bổ phổi bổ thận, tăng cường sức đề kháng

Món canh bào ngư tiềm thuốc bắc Sài Thành được xem là một bài thuốc bồi bổ sức khỏe cực kỳ tốt bởi vốn dĩ bào ngư đã mang trong mình nhiều dưỡng chất kết hợp với gà và thuốc bắc Sài Thành thì đúng là đại bổ. Canh này giúp phục hồi sức khỏe nhanh chóng cho người bệnh, giúp mắt sáng, tăng cường sinh lý, nam giới, bổ thận tráng dương, cường lực.

Nguyên liệu nấu món canh bào ngư hầm thuốc Bắc Sài Thành

– Kỷ tử, táo đỏ, nấm đông cô, con đông trùng hà thảo hoặc bông đông trùng hạ thảo,

– Bịch gia vị nấu canh thuốc bắc Sài Thành

– 1 con gà ác, 3 ~5 con

– Bào Ngư Hàn Quốc loại 10 con 1 kg.

– Làm sạch bào ngư, tách vỏ

Cách nấu món canh bào ngư Hàn Quốc

– Gà ác làm sạch cắt ra làm 4, 3 con bào ngư rửa sạch, trụng sơ gà ác và bào ngư.

– Bắt nữa nồi nước dạng trung đợi nước sôi rồi bỏ gà ác và 3 ~ 5 con bào ngư vào, nấu cho tới sôi khoảng 15 phút.

– Sau đó bỏ táo đỏ, nấm đông cô, bịch gia vị thuốc bắc Sài Thành

– Để nấu món bào ngư tiềm thuốc bắc Sài Thành chất lượng các bạn nấu bằng nồi đất hoặc nồi thuỷ tinh, còn không thì nấu nồi thường cũng không sao cả.

– Nấu thêm 10 phút và cuối cùng mới bỏ kỷ tử và bông đông trùng hạ thảo nấu thêm 5 phút là xong.

Khi nào dùng chúng ta chỉ cần hâm nóng là dùng được.

Bảo Tồn Gà Đông Cảo

Bảo tồn giống Gà Đông Cảo quý hiếm tại Việt Nam (Tinmoitruong.vn) – Gà Đông Tảo giống hay còn gọi là gà Đông Cảo là giống gà quý ở Việt Nam. Thế nhưng, hiện nay gà Đông Tảo đang dần mất đi những đặc tính vốn có từ xa xưa của nó.

Gà Đông Tảo Hưng Yên

Gà Đông Tảo hay còn gọi là gà Đông Cảo là giống gà quý hiếm của Việt Nam được các hộ dân xã Đông Tảo (Khoái Châu – Hưng Yên) nuôi và phát triển từ nhiều năm nay, hiện có khoảng hơn 2000 hộ nuôi loại gà này. Thế nhưng, hiện nay gà Đông Tảo đang dần mất đi những đặc tính vốn có từ xa xưa của nó. Nhiều người yêu gà, say mê gà đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc bảo tồn và gìn giữ nguồn gen đặc biệt quý hiếm này trước những diễn biến khôn lường của dịch bệnh.

Anh Nguyễn Mạnh Thắng, cán bộ xã Đông Tảo cho biết: “Đợt dịch vừa qua nhiều gia đình mất trắng, sạt nghiệp vì gà. Cả xã Đông Tảo nuôi gà, nhưng người nuôi theo mô hình trang trại đáp ứng nhu cầu của thị trường thì chỉ đếm trên đầu ngón tay vào khoảng 6 đến 7 nhà. Mặc dù giá gà rất cao, gà con mới nở có giá 50 đến 70 nghìn đồng, đấy là những con gà lai, những con đẹp có giá từ 400 đến 500 nghìn đồng nhưng người dân Đông Tảo rất ít hộ sống được và giàu lên bằng nghề nuôi gà”.

Hiện nay, người nuôi gà Đông Tảo đa số vẫn nuôi theo hình thức nhỏ lẻ, kỹ thuật chăm sóc gà vẫn dựa vào những kinh nghiệm truyền thống, chưa áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất chăn nuôi. Văcxin tiêm cho gà tuy có nhưng giá từ 700.000 đến 1.000.000 đồng/lọ dùng cho 1.000 con, nhưng nhiều hộ không có điều kiện mua vì giá thành cao so với khả năng và số lượng gà chỉ có vài chục con sẽ gây lãng phí nên mong muốn có loại văcxin dành cho những hộ chăn nuôi nhỏ.

Gà Đông Tảo được cho là đạt chuẩn phải hội đủ các yếu tố như: Đầu gộc tre, mình cốc (thân giống con cốc), cánh vỏ trai (cánh giống vỏ trai úp vào thân), đuôi nơm (giống cái nơm úp cá), mào mâm xôi, chân gà to, tròn, các ngón chân thẳng, múp, vảy thịt có da đỏ chứ không phải vảy xương và không bao giờ mọc thành hàng, không có cựa, bàn chân dày, cân nặng từ 4 đến 5 kg thậm chí có con đến 7kg. Hiện nay, gà có vảy thịt được cho là hiếm nhất phải mất 30 đến 40 năm mới đúc kết được một con, cả xã chỉ còn có 5 con gà trống như vậy.

Đến Đông Tảo bây giờ để mua được con gà thuần chủng là rất khó vì số người nuôi không có nhiều, mặc dù giá rất cao nhưng giống này chậm lớn hơn gà lai, đẻ ít, ăn rất khỏe, chi phí tốn kém. Chính vì vậy, một số hộ nuôi gà theo mục đích kinh doanh đã lai giữa giống gà ri và gà Đông Tảo cho giống khỏe hơn, đẻ nhiều hơn và kháng bệnh cũng tốt hơn.

Tuy vậy, ở xã Đông Tảo vẫn có người thực sự yêu qúy gà, coi gà như vật báu, dù khách trả giá cao đến cỡ nào cũng không bán, bởi mỗi gia đình cũng chỉ có từ một đến 2 cặp gà đạt chuẩn. Đa số người dân vẫn nuôi gà theo phương thức truyền thống, họ nuôi gà vì say mê và muốn gìn giữ nguồn gen quý hiếm cho con cháu sau này. Thiết nghĩ, các ngành chức năng cần có những biện pháp hỗ trợ cụ thể hơn nữa về kiến thức, thuốc men nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống dịch bệnh, giúp người nuôi gà làm giàu và bảo tồn được giống gà quý hiếm này.

TTXVN

Đề Tài, Dự Án Bảo Tồn

Đề tài: Bảo tồn gà lôi trắng tại Cúc Phương

Cơ quan quản lý: Sở KH&CN Ninh Bình. Cơ quan chủ trì: Trung tâm cứu hộ bảo tồn và phát triển sinh vật. Thời gian thực hiện: 24 tháng (5/2024-5/2024) I. MỤC TIÊU. 1.1. Mục tiêu tổng quát:

– Bảo tồn an toàn nguồn gen gà Lôi trắng làm cơ sở cho việc khai thác và sử dụng để phát triển kinh tế trước mắt và lâu dài.

1.2. Mục tiêu cụ thể:

– Xác định được hiện trạng nguồn gen gà Lôi trắng.

– Đáng giá chi tiết một số đặc điểm sinh học gà Lôi trắng trong điều kiện nuôi nhốt.

– Bảo tồn lưu giữ gà Lôi trắng được 200 cá thể, trong đó có 50 cá thể gà sinh sản và 150 cá thể gà con và hậu bị.

II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. Điều tra khảo sát hiện trạng nguồn gen gà Lôi trắng.

– Điều tra về số lượng quần thể, cấu trúc đàn, sự phân bố và điều kiện sinh cảnh ưa thích ở ngoài

– Sưu tậpgà Lôi trắng, số lượng 20 cá thể (24 tháng tuổi, trong đó có 10 con trống và 10 con mái).

– Xác định được các đặc điểm về ngoại hình của gà ở các giai đoạn: Gà con, gà dò, hậu bị và sinh sản.

– Đánh giá khả năng sinh trưởng của gà ở các giai đoạn: 1, 4, 8, 12, 16, 20, 24 tuần tuổi và trưởng thành.

– Đánh giá khả năng sinh sản: Tập tính sinh sản, mùa sinh sản hàng năm, tỷ lệ ghép đôi, sản lượng trứng/mái/năm.

– Khảo sát về thành phần, chất lượng của trứng và thịt.

– Đánh giá tỷ lệ ấp nở nhân tạo.

– Đánh giá khả năng kháng bệnh.

– Xác định được tiêu chuẩn giống gà Lôi trắng được bảo tồn.

– Xác định chế độ ăn thích hợp cho gà trong giai đoạn sinh sản.

– Đánh giá hiệu quả việc xử dụng vắc xin Lasota, Newcatson chịu nhiệt để phòng bệnh cho gà trong điều kiện nuôi nhốt.

III.KẾT QUẢ.

– Đã tiến hành lập và điều tra số lượng gà Lôi trắng tại rừng đặc dụng Cúc Phương được 20 tuyến, số cá thể gà lôi phát hiện được là 86 cá thể, mật độ TB1.3 con/ha, điều kiện sinhn cảnh thường gặp (41.5 % là rừng thứ sinh, 58.5% là trảng cỏ, cây bụi).

– Đã sưu tập được 20 gà lôi trắng 24 tháng tuổi, trong đó có 10 trống và 10 mái đủ tiêu chuẩn làm giống, đàn gà được nuôi nhốt tại trại gà giống Cúc Phương, bước đầu thích nghi tốt trong điều kiện nuôi nhốt.

– Bước đầu đã xác định được một số đặc điểm ngoại hình của gà Lôi trắng từ giai đoạn sơ sinh cho tới 24 tuần tuổi.

– Gà Lôi trắng mới sinh có trọng lượng tương đối nhỏ, trung bình đạt 35 gram/con, tuy nhiên đến gia đoạn 24 tuần tuổi trọng lượng gà đã đạt TB 397 gram/con. Đàn gà theo dõi sinh trưởng và phát triển tốt.

Bác sỹ thú y: Hoàng Xuân Thủy ĐT: 0915 635 615 – Email: ‘ ); document.write( addy79597 ); document.write( ‘‘ ); document.write( ‘‘ ); document.write( ” );

-Cơ quan quản lý: Bộ Khoa học và Công nghệ.

I. MỤC TIÊU:

-Thời gian thực hiện: 48 tháng, từ (1/2014- 12/2024).

– Tạo được đàn hạt nhân gà rừng tai đỏ với quy mô 200 mái.

– Tạo được đàn sản xuất gà rừng tai đỏ với quy mô 300 mái.

– Tạo được đàn thương phẩm gà rừng tai đỏ với quy mô 500 con.

– Dự thảo được tiêu chuẩn cơ sở đàn hạt nhân, đàn sản xuất và đàn thương phẩm gà rừng tai đỏ.

Điều tra tình hình , cơ cấu đàn giống, phương thức chăn nuôi, khả năng sản xuất, tình hình dịch bệnh .v.v. của giống gà rừng tai đỏ tại Ninh Bình thông qua phiếu điều tra.

Phân tích ADN của giống gà rừng tai đỏ để làm sáng tỏ thêm đặc điểm sinh học của giống gà rừng tai đỏ.

– Xây dựng tiêu chuẩn đàn hạt nhân gà rừng tai đỏ

+ Đặc điểm ngoại hình

+ Khả năng sản xuất của đàn hạt nhân gà rừng tai đỏ

– Chọn lọc đàn hạt nhân gà rừng tai đỏ với quy mô 200 mái.

– Nghiên cứu xây dựng quy trình chọn lọc đàn hạt nhân gà rừng tai đỏ.

– Xây dựng tiêu chuẩn đàn sản xuất gà rừng tai đỏ

+ Đặc điểm ngoại hình

+ Khả năng sản xuất của đàn sản xuất gà rừng tai đỏ.

– Xây dựng đàn sản xuất gà rừng tai đỏ với quy mô 300 mái.

– Nghiên cứu xác định phương thức nuôi thích hợp gà rừng tai đỏ sinh sản.

– Nghiên cứu xác định mức năng lượng thích hợp trong khẩu phần gà rừng tai đỏ sinh sản.

– Nghiên cứu xác định phương thức nuôi thích hợp gà rừng tai đỏ thương phẩm.

– Nghiên cứu xác định mức Protein thích hợp trong khẩu phần gà rừng tai đỏ thương phẩm.

– Nghiên cứu xác định mức năng lượng thích hợp trong khẩu phần nuôi gà rừng tai đỏ thương phẩm.

– Xây dựng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà rừng tai đỏ sinh sản.

4.2. Nghiên cứu xây dựng quy trình thú y trong chăn nuôi gà rừng tai đỏ.

– Xây dựng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà rừng tai đỏ thương phẩm.

– Ứng dụng các quy định thú y trong chăn nuôi: vệ sinh tiêu độc, sát trùng, khử trùng, tiêm phòng .v.v.

– Xác định một số bệnh thường gặp trên gà rừng tai đỏ.

– Xây dựng quy trình thú y phòng bệnh trong chăn nuôi gà rừng tai đỏ sinh sản.

– Xây dựng quy trình thú y phòng bệnh trong chăn nuôi gà rừng tai đỏ thương phẩm.

+ Xây dựng tiêu chuẩn đàn gà rừng tai đỏ thương phẩm.

III. KẾT QUẢ: Kết quả bước đầu thực hiện từ (1/2014-12/2024).

+ Xây dựng đàn gà rừng tai đỏ thương phẩm với quy mô 500 con.

– Đã tiến hành điều tra và đánh giá được hiện trạng nguồn gen gà rừng tai đỏ đang được chăn nuôi tại các xã vùng cao huyện Nho Quan.

– Đã tiến hành lấy 100 mẫu máu để xét nghiệm ADN,để đánh giá khoảng cách di truyền với các giống gà nội khác. Kết quả cho thấy gà rừng tai đỏ đang bảo tồn tại Vườn quốc gia Cúc Phương là giống gà thuần chủng và là tổ tiên của các giống gà nội đang được chăn nuôi tại Việt nam.

– Đã xây dựng được tiêu chuẩn chọn lọc đàn gà rừng tai đỏ sản xuất có các đặc điểm ngoại hình đặc trưng của giống. Năng suất trứng 21-24 quả/mái/năm. Tỷ lệ trứng có phôi 72-75%.Tỷ lệ nở/ phôi 88-92%. Đã tiến hành chọn lọc được đàn giống sản xuất quy mô 300 mái sinh sản và xây dựng được Quy trình chọn lọc đàn gà rừng tai đỏ sản xuất.

– Đã tiến hành xây dựng được Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà Tai đỏ sinh sản.

– Quy mô con giống khai thác năm 2024: Độ tuổi 1 tháng đạt 5000 cá thể. Các độ tuổi khác từ 5-12 tháng đạt trên dưới 1000 cá thể.

Bác sỹ thú y: Hoàng Xuân Thủy.

ĐT 0915 635 615 – Email: ‘ ); document.write( addy51705 ); document.write( ‘‘ ); document.write( ‘‘ ); document.write( ” ); Dự án nông thôn miền núi về hươu sao tại Cúc Phương

– Cơ quan quản lý: Bộ Khoa học và Công nghệ. UBND tỉnh Ninh Bình.

– Cơ quan chủ trì: Vườn quốc gia Cúc Phương.

I. MỤC TIÊU DỰ ÁN . 1.1. Mục tiêu chung: 1.2. Mục tiêu cụ thể:

– Thời gian thực hiện: 2013-2014.

II. NỘI DUNG DỰ ÁN. 2.1. Các nội dung dự án cần giải quyết.

– Đào tạo được 6 cán bộ kỹ thuật và 100 người dân nắm vững được các kiến thức cơ bản trong chăn nuôi hươu sinh sản.

– Chuyển giao và tiếp nhận các quy trình công nghệ về chăn nuôi hươu sao, trồng cây thức ăn thô xanh và sử lý chất thải.

– Đào tạo kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn kỹ thuật cho người dân.

2.2. Mô tả nội dung và các bước thực hiện.

– Xây dựng các mô hình: Chăn nuôi hươu sao sinh sản, trồng cây thức ăn thô xanh và sử lý chất thải trong chăn nuôi.

– Khảo sát, lựa chọn công nghệ, đơn vị và cá nhân chuyển giao công nghệ.

– Xây dựng đề cương, thuyết minh dự án được phê duyệt.

– Chuẩn bị cơ sở vật chất, lựa chọn nhân lực để thực hiện dự án.

– Tiến hành cử cán bộ đi học tập các quy trình công nghệ chuyển giao.

– Tổ chức sản suất, tiếp nhận công nghệ và tiếp tục đào tạo nâng cao tay nghề cho đội ngũ kỹ thuật viên. Theo dõi thu thập số liệu trong quá trình sản suất và xây dựng các mô hình.

– Đào tạo tấp huấn mở rộng, tổ chức thăm quan học tập cho người dân trong vùng thực hiện dự án.

III. KẾT QUẢ DỰ ÁN. 3.1. Điều tra khảo sát thực trạng vùng thực hiện dự án.

– Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện.

Từ kết quả điều tra cho thấy lực lượng lao động chính trên địa bàn xã tương đối dồi dào trên 50 % so với tổng dân số. Diện tích đất canh tác – Thuận lợi: nông nghiệp tương đối lớn trên dưới 500 ha. Chủng loại gia súc trong cơ cấu tương đối đa dạng, trong đó có những loài cho giá trị kinh tế cao, như: Dê núi và hươu sao… đây là điều kiện thuận lợi để Cúc Phương đột phá tự giải quyết nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ và sản phẩm hàng hoá phục vụ cho tiêu thụ nội địa cũng như làm nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến.

3.2. Công tác chuyển giao công nghệ.

– Hạn chế: Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản suất trồng trọt cũng như chăn nuôi còn nhiều hạn chế, cho nên năng suất cây trồng vật nuôi trên một đơn vị diện tích đất canh tác còn thấp, cũng như chưa khai thác triệt để các tiềm năng về đất đai, nhân lực. Chính vì thế, tỷ lệ hộ đói nghèo năm 2013 vẫn còn 11.02%. Do đó, điều mấu chốt nhằm tạo năng lực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi góp phần nâng cao mức sống cho người dân là phải có các giải pháp cụ thể và phù hợp giúp người dân tiếp cận được với khoa học và kỹ thuật, giúp họ hiểu và áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật vào sản suất.

Quy trình chọn giống hươu sao được phổ biến và chuyển giao phù hợp với điều kiện thực tiễn sản suất của địa phương và yêu cầu của dự án. Ngoài các tiêu chuẩn về ngoại hình và khả năng sản suất đạt tiêu chuẩn cấp (1) theo quy định, thì yếu tố rõ ràng về hệ phả lý lịch và kiểm dịch trước khi tiếp nhận là rất quan trọng và đây cũng là các nội dung được hướng dẫn và chuyển giao trực tiếp cho các hộ chăn nuôi.

– Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng hươu sao đã được chuyển giao, phù hợp với thực tế trong chăn nuôi hươu sao tại khu vực vùng cao xã Cúc Phương, là một trong những quy trình mang tính khoa học cao, được xây dựng theo chế độ chăm sóc nuôi dưỡng hươu đực, hươu cái giống và hươu con, có sự cân đối khẩu phần các loại thức ăn qua các giai đoạn được ứng dụng trực tiếp vào mô hình chăn nuôi. Quy trình đã được các hộ tham gia mô hình áp dụng đúng kỹ thuật, hươu đực giống cho tỷ lệ thụ thai đạt 100%, hươu cái giống có tỷ lệ sinh sản 100% và hươu con nhanh lớn tăng trọng đều.

– Quy trình thu hoạch, bảo quản và chế biến nhung hươu đã được biên soạn ngắn gọn và dễ hiểu, thông qua tập huấn các hộ tham gia dự án và người chăn nuôi trong vùng thực hiện dự án đã áp dụng tốt trong thực tế khai thác, chế biến và bảo quản nhung. Nhung hươu được theo dõi và thu hoạch đúng thời gian qua đó chất lượng nhung được đảm bảo và tiêu thụ được dễ ràng.

– Quy trình kỹ thuật phòng và điều trị bệnh hươu sao. Thông qua công tác chuyển giao, người dân đã kịp thời phát hiện, xác định được các triệu chứng lâm sàng, nguyên nhân gây bệnh và thông tin nhanh tới cán bộ phụ trách kỹ thuật để có giải pháp điều trị kịp thời, qua đó đàn hươu sao được chăn nuôi trên địa bàn trong và ngoài mô hình giảm đáng kể tỷ lệ tử vong.

3.3. Công tác đào tạo kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn.

– Quy trình sử lý chất thải. Hưỡng dẫn phương pháp thu gom chất thải trong chăn nuôi, phương pháp xây dựng, vận hành bể biogas. Quy trình đã được các cán bộ kỹ thuật hướng dẫn trực tiếp và chuyển giao cho các hộ tham gia mô hình, vì vậy các bước của quy trình đã được người chăn nuôi tiếp thu rất hiệu quả và áp dụng tốt trong thực tế sản suất, góp phần giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi.

a) Đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên: Dự án đã lựa chọn 6 người là nhân viên của Trung tâm cứu hộ bảo tồn và phát triển sinh vật, đây là các kỹ thuật viên trực tiếp tham gia vào thực hiện các khâu nội dung của dự án. Công tác đào tạo được xây dựng hợp lý, phương thức chuyển giao phù hợp với điều kiện của địa phương, thời gian học tập lý thuyết là 8 ngày, thời gian thực hành là 2 ngày.

– Các đặc điểm sinh học cơ bản của hươu sao.

– Các tiêu chuẩn về đặc điểm ngoại hình trong công tác chọn giống.

– Vấn đề đồng huyết trong chăn nuôi.

– Dinh dưỡng thức ăn và các phương thức ăn chăn nuôi chăm sóc. – Thu hoạch chế biến và bảo quản nhung hươu.

– Các giống cây trồng làm thức ăn chăn nuôi phổ biến hiện nay.

– Các kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cây cỏ voi, cây keo dậu.

– Chất thải trong chăn nuôi và phương pháp xây dựng, vận hành bể biogas.

Thông qua việc truyền đạt có chọn lọc, hình thức tổ chức sinh động do vậy học viên tiếp thu tốt. Qua đó đã cung cấp được những kiến thức cơ bản, có tính nền tảng giúp cho người học có được những hiểu biết thiết thực để tự thực hiện việc chăn nuôi sản suất hiệu quả hơn.

– Dự án đã lựa chọn 100 người nông dân trong đó có các chủ hộ tham gia dự án và cả các chủ hộ không tham gia dự án trên địa bàn. Đã mở được 2 lớp đào tạo tập huấn và 2 đợt thăm quan học tập các mô hình chăn nuôi hươu sao tại huyện Hương Sơn – Nghệ An trong thời gian 4 ngày.

– Hướng dẫn và triển khai đến người nông dân các nội dung cơ bản về quy trình chọn giống, chăn nuôi, khai thác nhung, trồng cỏ và sử lý chất thải trong chăn nuôi hươu sao.

3.4. Xây dựng các mô hình. 3.4.1. Mô hình chăn nuôi hươu sao sinh sản. a) Kết quả:

– Tổ chức hội nghị đầu bờ để đánh giá rút kinh nghiệm cho các mô hình chăn nuôi.

b) Đánh giá:

– Việc áp dụng các tiện bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi hươu sao sinh sản một cách bài bản, đã mang lại một số kết quả nhất định, đàn hươu sao giống sinh trưởng và phát triển tốt. Hươu đực cho thời gian khai thác nhung tập chung từ tháng 11 năm trước cho tới tháng 1 năm sau, sản lượng đạt 13.5 kg, nhung to mập và đều được các chủ hộ bán dưới dạng tươi. Hươu cái sinh sản được 37 con và 100 % đều đạt tiêu chuẩn giống về ngoại hình cũng như khối lượng sơ sinh.

– Mô hình chăn nuôi hươu sao sinh sản được áp dụng trên địa bàn xã Cúc Phương tuy với quy mô còn khiêm tốn, chỉ có 5 hộ gia đình đủ các tiểu chuẩn về diện tích đất canh tác, nhân lực và điều kiện chuồng trại để tham gia mô hình.

3.4.2.Mô hình trồng cây thức ăn. a) Kết quả:

– Tuy nhiên với các giải pháp kỹ thuật đồng bộ từ khâu tập huấn kỹ thuật, chọn lọc được các con giống đạt chất lượng và có hệ phả rõ ràng, kết hợp với việc thực hiện nghiêm túc các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất về thức ăn, vệ sinh phòng bệnh… đến nay có thể nói rằng mô hình bước đầu gặt hái được các kết quả thiết thực.

– Sau khi triển khai tập huấn, xác định địa điểm và diện tích đến nay toàn bộ mô hình đã được triển khai gieo trồng theo đúng kế hoạch, gồm 2 đợt:

+ Đợt một trồng được 0.5 ha cây cỏ voi và 0.5 ha cây keo dậu. + Đợt hai trồng được 1 ha cỏ voi và 1 ha cây keo dậu.

– Do phần lớn diện tích trồng cỏ trong mô hình có thời gian trồng và khai thác từ 1-2 năm trong chu kỳ khai thác từ 5-6 năm vì vậy chưa đánh giá được chính xáchiệu quả của mô hình thông qua sản lượng năng suất/ ha diện tích gieo trồng.

b) Đánh giá:

– Tuy nhiên, giống cỏ voi và cây keo dậu trong mô hình sinh trưởng, phát triển rất tốt đạt trung bình 135 tấn/ha/năm và 55 tấn/ha/năm, theo nhận xét của các chuyên gia cũng như kinh nghiệm của người dân địa phương thì mô hình rất có triển vọng.

– Mặc dù, thời gian trồng các giống cây cỏ voi và keo dậu đến nay mới chỉ được gần 2 năm, nhưng với khả năng sinh trưởng và điều kiện thâm canh chăm sóc theo đúng quy trình hướng dẫn, cho phép bước đầu khẳng định mô hình sẽ cho kết quả tốt.

3.4.3.Mô hình sử lý chất thải trong chăn nuôi. a) Kết quả:

– Việc đưa giống cây cỏ voi và cây keo dậu làm nhân tố cây trồng dài ngày để sản suất thức ăn thô xanh cho hươu sao tại xã Cúc Phương là một hướng đi đột phá, đã phát huy được hiệu quả thiết thực, qua đó giúp người chăn nuôi hươu chủ động được nguồn thức ăn, đặc biệt trong những tháng mùa Đông khô hanh.

– Mô hình sử lý chất thải trong chăn nuôi hươu đến nay đã triển khai và trang bị được 5 bể biogas cho 5 hộ gia đình, đây cũng là các hộ đang tham gia triển khai mô hình chăn nuôi hươu sao sinh sản trên địa bàn xã Cúc Phương.

b) Đánh giá:

– Với lượng thức ăn thô xanh đầu vào từ 10-15 kg/ hươu trưởng thành và 6-8 kg/ hươu con trên dưới 1 năm tuổi, trong quá trình chăn nuôi lượng chất thải chủ yếu là phân hươu được ước tính trên dưới 2 kg/con/ ngày của 35 hươu bố mẹ và 37 hươu con thải ra, mô hình đã thu gom được khoảng 52.560 kg/năm.

– Sử lý chất thải trong chăn nuôi là một quá trình thu gom, sử lý, tái sử dụng chất thải thành nguồn năng lượng tái tạo (khí sinh học và phân bón ). Trong chăn nuôi nói đến sử lý chất thải là nói đến việc sử lý phân, nước tiểu và nước rửa chuồng bằng các công nghệ khác nhau, quy mô khác nhau, tuỳ thuộc vào tình hình và điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng vùng.

– Tuy nhiên việc lựa chọn giải pháp sử lý chất thải trong chăn nuôi hươu sao tại xã Cúc Phương với quy mô vừa phải 10 m3/bể, đã hạn chế được nhiều các chi phí phát sinh, thời gian triển khai mô hình nhanh.

IV. KẾT LUẬN.

– Việc vận hành bể khí mới thực hiện được trên dưới 1 năm, songhiệu quả mà nó mang lại thì rất thiết thực, vấn đề ô nhiễm không khí cơ bản đã được giải quyết hoàn toàn, nguồn khí sinh học thu được dùng làm chất đốt và thắp sáng đã góp phần làm tăng thu nhập của người dân.

Được sự hỗ trợ của Bộ KH&CN, Sở KH&CN tỉnh Ninh Bình và các cơ quan phối hợp chuyển giao công nghệ, sau 2 năm thực hiện, dự án đã đạt và vượt mục tiêu đề ra, cụ thể như sau:

– Xây dựng thành công mô hình chăn nuôi hươu sao sinh sản: 35 hươu bố mẹ và 37 hươu con trên dưới 1 năm tuổi, sinh trưởng và phát triển tốt phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng vùng cao Cúc Phương

– Xây dựng được mô hình trồng cây thức ăn thô xanh, diện tích 3 ha trong đó có 1.5 ha cỏ voi và 1.5 ha cây keo dậu, góp phần hoàn toàn chủ động được nguồn thức ăn cho hươu sao, đặc biệt là các tháng mùa Đông khô hanh.

– Triển khai được mô hình sử lỹ chất thải với quy mô 5 bể biogas (1 bể/hộ chăn nuôi hươu) qua đó, cơ bản chất thải trong chăn nuôi hươu đã được sử lý triệt để, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường.

– Đã đào tạo được 6 cán bộ kỹ thuật viên cơ sở và 100 người nông dân hiểu biết được các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất trong chăn nuôi hươu sao.

– Đã tiếp nhận và áp dụng tốt 6 quy trình công nghệ về chọn giống, chăn nuôi, thu hoạch nhung, phòng trị bệnh, trồng cây thức ăn thô xanh và sử lý chất thải trong chăn nuôi.

– Qua việc triển khai mô hình với những kết quả rõ rệt trong việc nâng cao đời sống nhân dân, cho thấy vai trò quan trọng có tính quyết định của kỹ thuật mới và chuyển giao kỹ thuật đó vào trực tiếp sản suất.

– Về vùng nông thôn xã Cúc Phương, qua dự án này đã có chuyển dịch tích cực hơn, mở ra khả năng nâng cao hiệu quả sản suất, nhất là sản suất trong ngành chăn nuôi hươu theo hướng thâm canh. Dự án đã được sự hưởng ứng nồng nhiệt của nhân dân ở hầu khắp địa bàn, cho thấy người nông dân luôn sẵn lòng tiếp thu cái mới, nhất là trong việc chọn giống và các giải pháp chăn nuôi, miễn sao các biện pháp đó phải thật ngắn gọn và dễ hiểu.

Bác sỹ thú y: Hoàng Xuân Thủy.

ĐT: 0915 635 615 Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

Cập nhật thông tin chi tiết về Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!