Xu Hướng 2/2023 # Giới Thiệu Ý Yên – Nam Định – Ý Yên Online # Top 2 View | Raffles-design.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giới Thiệu Ý Yên – Nam Định – Ý Yên Online # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Giới Thiệu Ý Yên – Nam Định – Ý Yên Online được cập nhật mới nhất trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Vị trí: Ý Yên nằm ở phía tây nam tỉnh Nam Định, phía bắc tiếp giáp tỉnh Hà Nam, phía tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía đông giáp huyện Vụ Bản, phía nam giáp huyện Nghĩa Hưng. Toạ lạc giữa hai trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh Nam Định và Ninh Bình, có tuyến quốc lộ 10, đường sắt xuyên Việt đi qua… Ý Yên hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để thông thương và thu hút đầu tư. Diện tích:       241,23 km2 Dân số:         247718 người (2008)

Hành chính: Một thị trấn Lâm- và 31 xã: Yên Thọ, Yên Thành, Yên Trung, Yên Nghĩa, Yên Phương, Yên Tân, Yên Chính, Yên Phú, Yên Hưng, Yên Phong, Yên Bình, Yên Minh, Yên Dương, Yên Xá, Yên Hồng, Yên Quang, Yên Tiến, Yên Bằng, Yên Thắng, Yên Cường, Yên Đồng, Yên Mỹ, Yên Lợi, Yên Khánh, Yên Ninh, Yên Khang, Yên Lộc, Yên Phúc, Yên Trị, Yên Nhân, Yên Lương.

Lịch sử: Huyện Ý Yên ngày nay là phần đất quan trọng thuộc phủ Ứng Phong vào thế kỷ XII-XIII. Ý Yên khi đó được coi là khu vực phụ cận của cố đô Hoa Lư, đồng thời nằm trên đường thiên lý từ Hoa Lư ra Thăng Long nên được các vua Lý, Trần quan tâm phát triển nông nghiệp và xây dựng thành trung tâm Phật giáo. Thời Lý, trung tâm tôn giáo Chương Sơn với tháp Vạn Phong Thành Thiện trên núi Ngô Xá được xây dựng với quy mô to lớn vào bậc nhất nhì thời đó. Đờii Trần, Hoàng đế Trần Nhân Tông- đệ nhất thiền phái Trúc Lâm- đã cho dựng chùa Linh Quang, còn gọi là chùa trăm gian, tại xã Yên Khánh. Cũng vào thời Trần, cuối thế kỷ XIV, chùa Đô Quan, xã Yên Khang được xây dựng, chứng tích còn lại là bệ đá hình hộp hoa sen ở bái đường, một tác phẩm nghệ thuật tôn giáo đẹp và nguyên vẹn. Ý Yên là huyện giàu truyền thống cách mạng. 17/32 xã thị trấn được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Đặc điểm: Là vùng đất hình thành sớm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Ý Yên nằm ở vùng đất trũng hơn cả, địa hình không đồng đều (một số núi đất sót lại: núi Phượng Hoàng, Bảo Đài…) nên sản xuất nông nghiệp gặp những khó khăn nhất định. Ý Yên có nhiều làng nghề truyền thống qua hàng chục thế kỷ, nổi tiếng như: đúc đồng Tống Xá, mộc La Xuyên, sơn mài Cát Đằng… Sự tài hoa của bàn tay, khối óc nghệ nhân Ý Yên kết tinh lại trong các tác phẩm, công trình tôn giáo tín ngưỡng như đình Ruối, đình Cát Đằng, đình La Xuyên… Ý Yên còn là nơi tàng ẩn kho tàng văn hoá dân gian phong phú. Làng chèo cổ Yên Nhân với những làn điệu cất lên từ vùng quê “đồng trắng, nước trong” ca ngợi quê hương, tình làng nghĩa xóm đã có tác động không nhỏ trong đời sống cộng đồng cho tới tận ngày nay. Ý Yên là đất học, đất văn, quê hương của 18 tiến sỹ, Hoàng giáp, Phó bảng, tiêu biểu như tiến sỹ Khiếu Năng Tĩnh…

Làng nghề

Có làng đúc đồng Vạn Điểm  thuộc Thị Trấn Lâm.

Có làng cơ khí đúc và làm trống cổ truyền Tống Xá thuộc xã Yên Xá.

Có làng điêu khắc đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên và các làng bên: Ninh xá, Lũ Phong, Trịnh xá thuộc xã Yên Ninh.

Làng nghề Sơn mài Cát Đằng thuộc xã Yên Tiến

Làng Chuế Cầu

Khu điểm tham quan du lịch: làng nghề đúc đồng Tống Xá (xã Yên Xá), làng chạm khắc gỗ Ninh Xá, La Xuyên (xã Yên Ninh), làng nghề sơn mài Cát Đằng (xã Yên Tiến); đền Ninh Xá (xã Yên Ninh), đình Cát Đằng (xã Yên Tiến), đình La Xuyên (xã Yên Ninh), đình Ruối (xã Yên Nghĩa), đình chùa Đô Quan (xã Yên Khang); phủ Quảng Cung, đê sông Đáy, Quần thể di tích thờ Vua Đinh ở Nam Định với các di tích như đền Vua Đinh ở Yên Thắng, đình Thượng Đồng,  đền Cộng Hòa ở xã Yên Tiến. Phủ Quảng Cung (Phủ Nấp) xã Yên Đồng- Thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ nhất, Đình Cổ Hương, xã Yên Phương thờ thánh tổ Nguyễn Minh Không. Làng Tràn (Trần Xá), xã Yên Đồng.Cây cổ thụ Dã Hương hơn 500 tuổi, xã Yên Nhân. Hai cây gạo đại thụ hơn 200 tuổi tại Làng Đống Cao, xã Yên Lộc

Lễ hội tiêu biểu: hội làng Tống Xá (xã Yên Xá),hội làng La Xuyên(Ninh Xá) hội đền vua Đinh (thôn Dương Hồi, xã Yên Thắng, Lễ hội đình Tràn ngày 14-3 âm lịch

Hàng lưu niệm: Sản phẩm các làng nghề truyền thống đồ đồng, đồ gỗ mỹ nghệ, tranh sơn mài, các sản phẩm từ nứa…

An Ninh Của Huyện Yên Định Năm 2022

Tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của huyện Yên Định năm 2020

Page Content

Phần thứ nhất

Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên huyện Yên Định

Yên Định là một huyện thuộc vùng đồng bằng bán sơn địa, tiếp giáp với vùng trung du, miền núi của tỉnh, cách thành phố Thanh Hoá 28 km về phía Tây Bắc. Huyện có 24 xã, 2 thị trấn, với diện tích tự nhiên 228km2, dân số 163.151 người; kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trong đó đất nông nghiệp 14.414 ha; Qua quá trình lao động sáng tạo không ngừng của nhân dân Yên Định đã xây đắp nên một vùng quê có bề dày lịch sử, truyền thống yêu nước và cách mạng, một huyện anh hùng cả trong chiến đấu và lao động sản xuất. Đặc biệt trên chặng đường 10 năm đầu của thế kỷ XXI (2000 – 2010) xây dựng huyện trở thành đơn vị Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Yên Định đã đoàn kết thống nhất, lao động sáng tạo, cần kiệm để xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp.

Trong quá trình xây dựng CNXH, Yên Định có nhiều điển hình tiên tiến, trở thành điểm sáng để cả tỉnh, cả nước tham khảo, học tập, rút kinh nghiệm, như: Yên Trường, Định Công, Quý Lộc… được Bác Hồ và nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước về thăm, biểu dương, khen ngợi. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc đạt đã được, nhân dân và cán bộ huyện Yên Định, xã Quý Lộc và 1 cá nhân đã vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động trong thời kì đổi mới”.

Phần thứ hai

Tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của huyện

Năm 2020, Huyện ủy, HĐND huyện, UBND huyện luôn quán triệt, thực hiện nghiêm túc chủ trương, chỉ đạo của Trung ương, cùng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng, nỗ lực vượt bậc, tập trung thực hiện “mục tiêu kép” - vừa quyết liệt phòng chống dịch bệnh với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, vừa quyết tâm duy trì, phục hồi, phát triển các hoạt động KTXH và bảo đảm đời sống của nhân dân. 

I. VỀ KINH TẾ

Nền kinh tế của huyện tiếp tục phát triển và tăng trưởng đạt kết quả khá, có nhiều chỉ tiêu cơ bản đạt trên 75% kế hoạch, nhất là nhóm chỉ tiêu chính như: Tốc độ tăng  giá trị sản xuất: 16,67%, đạt 75,06% KH năm, trong đó: Nông lâm – thuỷ sản tăng 5,14%, đạt 81,18% KH năm; Công nghiệp – XD tăng 18,98%, đạt 72,01% KH năm; Dịch vụ tăng 22,19%, đạt 74,31% KH năm. Cơ cấu GTSX chuyển dịch theo hướng tích cực; ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 30,56%, CN –XD chiếm 34,85%, Dịch vụ chiếm 34,59%. Thu nhập bình quân đầu người 36,12 triệu đồng, đạt 75,49% KH. Cụ thể trên các lĩnh vực.

1. Sản xuất nông, lâm, thuỷ sản

               Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 2.622,6 tỷ đồng, đạt 82,3% KH, tăng 5,1% so với cùng kì.

             - Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng 28.823,8 ha, đạt 99,4%KH, giảm 0,9% so với cùng kì, trong đó: Vụ Đông 4.789 ha, đạt 96,8% KH, giảm 5,5% so với cùng kì; vụ Xuân 12.638 ha, đạt 99,9% KH, bằng 100% so với cùng kì; vụ Mùa 11.396 ha, đạt 99,1% KH, tăng 0,2% so với cùng kỳ. Cây ngô 2.629,9 ha, giảm 16,7% so với cùng kì; Cây lúa: 18.033,6 ha, giảm 1,6% so với cùng kì; rau đậu các loại 3.784 ha, tăng 1,07% so với cùng kì (vùng rau an toàn 52 ha); cây ớt 1.959,1 ha, tăng 5% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng lương thực có hạt 131.443 tấn, đạt 99,8% KH năm, giảm 2,4% so với cùng kì. Triển khai phương án sản xuất vụ Đông 2020-2021; Chỉ đạo công tác chuẩn bị giống, phân bón cho sản xuất vụ Đông.

            – Về chăn nuôi: Chăn nuôi phát triển ổn định; Đàn trâu 6.795 con, giảm 15,4% so với cùng kì; Đàn bò 21.609 con, tăng 1,1% so với cùng kì; Đàn lợn 48.138 con, giảm 30,4% so với cùng kì, trong đó lợn nái 5.899 con (nái ngoại 2.763 con), đàn gia cầm 1.686,7 nghìn con, tăng 14,8% so với cùng kì. Kinh tế trang trại tiếp tục duy trì và phát triển ổn định, tổng trang trại theo tiêu chí mới là 135 trang trại, công tác tiêm phòng tiếp tục được tăng cường. Đã tổ chức tập huấn và chuyển giao kỹ thuật được 62 lớp cho bà con nông dân, đạt 103,3%KH năm.

              – Lâm nghiệp: Tiếp tục bảo vệ trên 621 ha rừng sản xuất và trồng thêm 55 nghìn cây phân tán các loại.  Giá trị sản xuất ( theo giá so sánh 2010) đạt 7,42 tỉ đồng, tăng 0,4% so với cùng kì.

              – Thuỷ sản: Sản lượng khai thác và nuôi trồng 3.392 tấn, tăng 2,3% so với cùng kì. Giá trị sản xuất ( theo giá so sánh 2010) đạt 92,5 tỉ đồng, tăng 6,8% so với cùng kì.

            – Công tác thuỷ lợi và phòng chống thiên tai: Công tác thuỷ lợi và phòng chống thiên tai nhất là bão, lụt được triển khai thực hiện kịp thời. Tập trung chỉ đạo cho công tác chống hạn; nạo vét nhiều tuyến kênh tiêu, đắp đập đảm bảo tạo nguồn nước phục vụ sản xuất; tích cực thực hiện phương án PCLB; tăng cường kiểm tra công tác chuẩn bị vật tư phòng chống lụt bão, chủ động ứng phó với các tình huống thiên tai xảy ra; ứng cứu kịp thời người và tài sản do ảnh hưởng của thiên tai lũ lụt gây ra.

           - Xây dựng nông thôn mới: Chỉ đạo Các xã tập trung xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện xây dựng hoàn thành các tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao, thôn, xã nông thôn mới kiểu mẫu theo kế hoạch đã đề ra. Đến nay xã Định Tân đã được UBND tỉnh công nhận xã Nông thôn mới nâng cao, đang tiếp tục phấn đấu hoàn thành xã Nông thôn mới kiểu mẫu. Xã Định Long hoàn thiện hồ sơ đề nghị tỉnh công nhận trong 3 tháng cuối năm 2020; có 7 thôn đã được công nhận Thôn kiểu mẫu

            – Vệ sinh an toàn thực phẩm: Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn các xã, thị trấn thực hiện tốt các kế hoạch văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí về an toàn vệ sinh thực phẩm; Chỉ đạo rà soát, đánh giá, mức độ đạt được các tiêu chí xã, phường, thị trấn an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn huyện. Đã hoàn thiện 16/17 chuỗi theo kế hoạch đề ra năm 2020, duy trì hoạt động các chuỗi đã xây dựng; xây dựng thêm được 9 chợ ATTP. Nâng tổng số chợ ATTP trên địa bàn huyện lên 15/26 chợ; xây dựng được 5/5 cửa hàng kinh doanh thực phẩm an toàn. có 6 xã đã hoàn thành tiêu chí xã ATTP và được công nhận xã VSATTP, có 06 xã đã đạt 16/16 tiêu chí VSATTP, đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị thẩm định. Các xã còn lại đã đạt trên 10 tiêu chí, dự kiến hết năm 2020 có 100% số xã được công nhận xã VSATTP; đã tổ chức đoàn kiểm tra các trọng điểm về VSATTP, phát hiện và xử lý 10/41 hộ kinh doanh vi phạm về VSATTP, với số tiền trên 26 triệu đồng.

2. Sản xuất công nghiệp, TTCN và XDCB

           – Do ảnh hưởng dịch Covid-19, nhất là trong cuối tháng 3 và tháng 4 là thời gian cao điểm của dịch Covid 19 đã làm cho một số doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và việc tiêu thụ sản phẩm của mình, đặc biệt là các mặt hàng xuất khẩu khẩu nhưng nhìn chung chỉ số sản xuất ngành công nghiệp vẫn duy trì được mức tăng so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất CN – TTCN ước đạt 2.975,9 tỷ đồng, đạt 70,5% KH, tăng 24,7% so với cùng kì.

          – Về hoạt động, phát triển doanh nghiệp: Do ảnh hưởng của dịch Covid 19 nên việc thành lập phát triển doanh nghiệp chậm; 9 tháng đầu năm đã thành lập mới 35 doanh nghiệp, đạt 38,9% KH tỉnh giao, giảm 32,7% so với cùng kỳ, tổng số doanh nghiệp trên địa bàn huyện lên 597 doanh nghiệp.

             – Tổng vốn đầu tư XDCB trên địa bàn ước đạt trên 1.586,8 tỷ đồng, đạt 75,35% KH, tăng 5,6% so với cùng kì. Các công trình huyện làm chủ đầu tư­ được thi công đảm bảo tiến độ, chất lượng như: Đường giao thông vành đai phía nam thị trấn Quán Lào, khu công viên Quảng trường trung tâm huyện, Sửa chữa trụ sở HĐND – UBND huyện, nhà truyền thống, ….; Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các xã, thị trấn thực hiện giải phóng hành lang lòng, lề đường, quản lý cấp phép xây dựng; 9 tháng đầu năm công bố hợp chuẩn được 03 chợ là chợ Định Hòa, chợ Yên Thái, chợ Định Liên; 02 chợ đạt 17/19 tiêu chí (02 tiêu chí không đánh giá) đã được đoàn liên ngành kiểm tra đảm bảo đạt tiêu chí xây dựng chợ ATTP; đang chờ công bố hợp chuẩn là chợ Yên Ninh, chợ Yên Phú, nâng tổng số các chợ đạt chợ ATTP trên địa bàn huyện là 15 chợ; các chợ còn lại đang thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra;

              – Công tác quản lý điện năng: Thực hiện tốt công tác bảo vệ hành lang an toàn lưới điện và triển khai việc khắc phục nâng cấp điện tại một số xã, thị trấn; Tổng điện năng tiêu thụ là 130 triệu kwh, giảm 1,5 % so với cùng kỳ. Trong đó: điện dùng trong sinh hoạt là 64,6 triệu kW, giảm 5,1% so với cùng kỳ; điện dùng trong sản xuất là 62,8 triệu kW, tăng 10,2% so với cùng kỳ; trong đó điện dùng trong bơm tưới tiêu là 2,6 triệu kW, giảm 62,6% so với cùng kỳ.

3. Tài chính, tín dụng – Thương mại và dịch vụ

          – Tăng cường thực hiện các biện pháp quản lý thu thuế, phí, lệ phí, chống thất thu, giảm nợ đọng thuế; quản lý, kiểm tra việc sử dụng NSNN đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 362,4 tỷ đồng, trong đó thu tiền sử dụng đất 275,8 tỷ đồng, các khoản thu còn lại đạt 86,58 tỷ đồng, đạt 70,4% dự toán giao, đạt 79% so với cùng kỳ.

          – Hoạt động tín dụng tích cực đẩy mạnh, đáp ứng nhu cầu vốn vay phục vụ sản xuất và kinh doanh của nhân dân. Tổng nguồn vốn ước đạt 3450,5 tỉ đồng, tăng 6,1% so với cùng. Hoạt động dịch vụ thương mại tiếp tục được mở rộng và phát triển, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt 2453,4 tỷ đồng; giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu đạt 35,28 triệu USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ. Công tác kiểm tra tình hình lưu thông hàng hoá, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng lậu, hàng quốc cấm và gian lận thương mại được tăng cường, trong 09 tháng đầu năm 2020, đã kiểm tra và xử lý 40/46 vụ, thu phạt VPHC là 230,6 triệu đồng.

4. Công tác quản lí tài nguyên, môi trường

             - Tổ chức thực hiện đảm bảo kế hoạch sử dụng đất năm 2020; Đã cấp 4065 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân, trong đó cấp lần đầu là 318 trường hợp. Tổ chức đấu giá và phê duyệt kết quả trúng đấy giá quyền sử dụng đất cho các hộ trúng đấu giá  cho 737 hộ gia đình cá nhân với diện tích 110.755 m2; số tiền trúng đấu giá là 416,1 tỷ đồng. Triển khai Kế hoạch tích tụ, tập trung đất đai giao năm 2020 cho các đơn vị với diện tích tích tụ: 800ha; diện tích tích tụ đất đai trên địa bàn huyện đến ngày 10/9/2020 là 450 ha. Phê duyệt phương án bồi thường giải phóng mặt bằng và thu hồi đất các dự án; tính đến ngày 10/9/2020 đã hoàn thành được 24/53 dự án, diện tích giải phóng mặt bằng là 66,61 ha, đạt 42,27 % kế hoạch.

II. VỀ VĂN HOÁ – XÃ HỘI

1. Văn hoá – thông tin, thể dục thể thao

             - Hoạt động văn hóa, thông tin đã tập trung tuyên truyền về công tác phòng chống dịch Covid 19, các nhiệm vụ chính trị, sự kiện quan trọng, ngày lễ lớn của đất nước và địa phương và các hoạt động chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp; Thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang trong thời gian phòng, chống dịch Covid-19. Trong 9 tháng đầu năm 2020, thực hiện theo Chỉ thị 15 của Chính phủ tạm dừng các hoạt động tổ chức các lễ hội, văn nghệ, thể dục thể thao, do ảnh hưởng dịch covid- 19; tổ chức lễ phát động triển khai thực hiện Đề án thí điểm Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình tại xã Định Long. Toàn huyện có hơn 115 CLB “Gia đình phát triển bền vững”. Số hộ gia đình đăng ký danh hiệu văn hóa là 42.260 hộ, đạt 90%. Chỉ đạo xây dựng Đề án “Nghiên cứu phục dựng, phát huy các giá trị lễ hội Đền Đồng Cổ xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá”

2. Giáo dục và đào tạo

            - Ngành giáo dục và đào tạo đã tập trung thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch Covid 19 tại trường học trên địa bàn huyện; tổ chức các hoạt động dạy học cho học sinh trên mạng Internet và truyền hình nhằm đảm bảo chương trình củng cố kiến thức cho học sinh trong thời gian phải nghỉ học do phòng chống dịch; Tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2019-2020, triển khai nhiệm vụ năm học 2020-2021; tuyên dương và khen thưởng học sinh giỏi, giáo viên có học sinh giỏi năm học 2019 – 2020; Học sinh TN THCS đạt 100%. HS tốt nghiệp THPT đạt 99,13%; HS TN BT THPT đạt 88,64%; thực hiện kế hoạch luân chuyển giáo viên của các trường, cấp học trên địa bàn huyện. Công tác xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được quan tâm số trường học đạt CQG trên toàn huyện đạt 82 trường, tăng 4 trường so với cùng kỳ và 52 thư viện chuẩn quốc gia. Các trung tâm học tập cộng đồng, tổ chức khuyến học duy trì hoạt động hiệu quả.

3. Công tác Y tế

              – Tăng cường huy động các nguồn lực đầu tư về cơ sở vật chất y tế, chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh cho nhân dân. Ngành y tế đã chủ động tham mưu, chỉ đạo thực hiện tốt công tác phòng chống dịch Covid 19 trên địa bàn huyện theo đúng chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh và hướng dẫn của Bộ y tế; chỉ đạo bảo đảm nơi ăn ở cho công dân thực hiện việc cách ly Covid-19 tại các điểm cách ly của huyện; Công tác tiêm chủng mở rộng tiếp tục được duy trì; công tác quản lí hành nghề y dược tư nhân được quan tâm hơn, nhìn chung các cơ sở y dược đều hoạt động đảm bảo theo đúng quy định của Nhà nước; phân công trực tết và giám sát dịch phòng chống dịch 24/24h; Công tác tuyên truyền vận động người tham gia BHYT trên địa bàn được quan tâm, đến nay đạt tỷ lệ 87,3%, tăng 6,7% so với cùng kỳ.

               - Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chính sách dân số và tổ chức dịch vụ KHHGĐ tại các xã, thị trấn, nâng cao chất lượng dân số.

4. Công tác lao động, việc làm, chính sách xã hội, giảm nghèo

               - Thường xuyên quan tâm chỉ đạo giải quyết kịp thời, đúng chế độ chính sách cho các đối tượng người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, chăm lo hỗ trợ đời sống cho các đối tượng khó khăn vào dịp lễ tết, kỳ giáp hạt; Chính sách xã hội, các hoạt động từ thiện nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa được quan tâm chỉ đạo đạt kết quả tốt; Tổ chức hội nghị biểu dương người có công; lễ dâng hương, thắp nến tri ân và lễ cầu siêu tại nghĩa trang liệt sỹ. Giải quyết việc làm mới cho 3051 người, đạt 67,8%KH; đào tạo được 1581 lao động nâng tỷ lệ đào tạo lên 75%; xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình giảm nghèo năm 2020 và tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo nhanh và bền vững. Kết quả rà soát sơ bộ tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,52%, tỷ lệ hộ cận nghèo là 10,28%.

            – Công tác xuất khẩu lao động, việc làm, đào tạo dạy nghề luôn được quan tâm, 9 tháng đầu năm tình hình XKLĐ gặp nhiều khó khăn do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, số lao động xuất cảnh là 232 người, đạt 46,4%KH, giảm 53% so với cùng kỳ.

III. CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG – AN NINH

             - Công tác Quốc phòng: Tập trung chỉ đạo, triển khai việc thực hiện nhiệm vụ Quân sự địa phương năm 2020 đạt kết quả tốt: tổ chức trực sẵn sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng, tổ chức huấn luyện; đã hoàn thành 100% chỉ tiêu kế hoạch tuyển quân với 203 thanh niên nhập ngũ. Tổ chức tổng kết công tác tuyển quân và Sơ kết 5 năm thực hiện Nghị định 74/2015/NĐ – CP của Thủ tướng Chính phủ về Phòng không nhân dân. Phối hợp Ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 huyện thực hiện tốt các biện pháp bảo đảm tại khu vực cách ly, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ khi có tình huống; Xây dựng quyết tâm A; kế hoạch chuyển trạng thái kế hoạch cơ động lực lượng; kế hoạch PCTT-TKCN và hệ thống kế hoạch đỏ cùng quyết tâm A. Bảo vệ thành công Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 26.

              – Công tác đảm bảo ANTT: Trong 9 tháng đã xảy ra một số vụ việc như: các hộ dân khu phố Sao Đỏ – Thị trấn Thống Nhất kiến nghị về tình trạng ô nhiễm môi trường của công ty Bò sữa Thống Nhất; một số bài báo viết về huyện….9 tháng phát hiện 45 vụ việc vi phạm trong đó: trật tự xã hội 35 vụ; mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy 10 vụ; tình hình trật tự an toàn giao thông không để xảy ra ùn tắc, mất trật tự giao thông; 9 tháng đã xảy ra 17 vụ tai nạn, va chạm giao thông, làm chết 05 người, 16 người bị thương, giảm 01 tiêu chí về số người chết là 16,6%.

            – Công tác đảm bảo trật tự ATGT luôn được tăng cường, duy trì tổ tuần tra vũ trang trong thời gian cao điểm ở các khu vực trọng điểm như: TT. Quán Lào, Yên Trường, Định Bình, QL 45… Trong 9 tháng đã phát hiện 1389 trường hợp vi phạm giao thông, xử phạt nộp Kho bạc nhà nước 1,1 tỷ đồng, trong đó xử phạt 60 trường hợp xe ô tô, (07 trường hợp xe quá quá tải, 25 trường hợp rơi vãi, 06 trường hợp vi phạm chiều cao và 22 trường hợp lỗi khác với số tiền 350 triệu đồng.

            – Công tác tiếp dân, xử lí và giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo được duy trì. Đã tiếp 612 lượt người đến khiếu nại, tố cáo, thỉnh cầu (UBND huyện tiếp 234 lượt người); tiếp nhận 249 đơn thư tố cáo, khiếu nại, thỉnh cầu (giảm 39 đơn), trong đó UBND huyện tiếp nhận 159 đơn, trong đó có 57 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện, đã giải quyết 54 đơn, đạt 94,7%; đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các xã, thị trấn gồm 165 đơn (tính cả 75 đơn huyện chuyển xuống), đã giải quyết được 162 đơn, đạt 98%, đơn trùng lắp không đủ điều kiện xử lý 27 đơn.

IV. CÔNG TÁC XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN

            – Thực hiện ký hợp đồng làm việc xác định thời hạn đối với 155 viên chức được tuyển dụng năm 2020; Thực hiện Đề án bố trí công an chính quy đảm nhiệm chức danh Trưởng công an xã đối với 100% xã, thị trấn theo quy định của UBND tỉnh và Công an tỉnh. Thẩm định, trình Sở Nội vụ, UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt đề án xác định vị trí việc làm, cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức và số lượng người làm việc, giai đoạn 2020 – 2022 của Trung tâm Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch; Trung tâm dịch vụ Nông nghiệp huyện Yên Định; Hướng dẫn Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Yên Định xây dựng đề án xác định vị trí việc làm, cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức và số lượng người làm việc, giai đoạn 2020 – 2022; Tăng cường giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến mức độ 3, 4 và thông qua dịch vụ bưu chính công ích nhất là trong thời gian chống dịch Covid 19. Kiện toàn ban chỉ đạo xây dựng các danh hiệu kiểu mẫu; Tăng cường quản lý các hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện; giải quyết các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo theo thẩm quyền. Lập hồ sơ đề nghị UBND tỉnh phân loại đơn vị hành chính đối với các xã, thị trấn sau khi sắp xếp, sáp nhập (Yên Phú, Yên Bái, Thị trấn Quán Lào); thực hiện đề nghị chuyển 5 thôn thành khu phố thuộc TTQL. Kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân có sai phạm trong quản lý, điều hành ở địa phương, gồm (UBND xã Quý Lộc, UBND xã Yên Thọ, UBND xã Định Hải, UBND xã Yên Phong, UBND xã Định Bình, UBND xã Yên Thái, UBND xã Yên Lâm; UBND Định Tiến, UBND Yên Tâm). Thực hiện tốt công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và công tác chứng thực theo quy định. Trong 9 tháng đầu năm 2020 toàn huyện đã kiện toàn 148 tổ hòa giải với 1.583 hòa giải viên, 422 tuyên truyền viên pháp luật, và 25 báo cáo viên pháp luật, 9 tháng đầu năm đã giải quyết 77 vụ việc, số vụ hòa giải thành là 60 vụ, tỷ lệ đạt 77,92%; số vụ hòa giải không thành 13, tỷ lệ đạt 16,88%; số vụ chưa giải quyết xong là 4 vụ; đã tổ chức được 68 buổi phổ biến giáo dục pháp luật trực tiếp ở xã với 5663 lượt người tham gia, có 1935 tài liệu được phát miễn phí.

            – Công tác tiếp nhận giải quyết và giao trả hồ sơ cho các tổ chức, công dân đảm bảo kịp thời, theo đúng quy định; 9 tháng đã tiếp nhận 12.158 hồ sơ, trong đó: đã giải quyết đúng hạn 11.373 trường hợp, trả chậm 259 hồ sơ, đang giải quyết 785 trường hợp (quá hạn 6 trường hợp).

            – Công tác theo dõi, đôn đốc các phòng, đơn vị trong việc soạn thảo, chuẩn bị các văn bản, đề án, dự án theo chương trình công tác, chương trình hành động và tiến độ thực hiện ý kiến, kiến nghị của cử tri tiếp tục được tăng cường. 9 tháng đầu năm, số văn bản UBND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND huyện giao cho các phòng, đơn vị thực hiện là 7.245 văn bản (trong đó: số văn bản có thời hạn là 1.730 văn bản; thực hiện đúng hạn 1376VB; thực hiện chậm 343 VB, đã quá hạn: 11 VB), chuyển sang tháng sau 47 văn bản.

V. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND HUYỆN

              – 9 tháng đầu năm, UBND huyện, UBND huyện Yên Định đã xây dựng và ban hành kế hoạch, chương trình công tác cụ thể để triển khai thực hiện tại Quyết định số 4805/QĐ-UBND ngày 23/12/2019 ban hành chương trình công tác năm 2020 của UBND huyện, QĐ số 162/QĐ-UBND ngày 14/01/2020, về ban hành kế hoạch hành động về nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2020; ban hành các quyết định, kế hoạch cho các phòng, ban và đơn vị cơ sở như: Kế hoạch về chuyển đổi công tác định kỳ năm 2020 đối với cán bộ, CC,VC; Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, CC, VC năm 2020; Kế hoạch thực hiện ý kiến, kiến nghị của cử tri và Đại biểu HĐND huyện từ kỳ họp thứ 11 HĐND huyện; Kế hoạch khắc phục các tồn tại, hạn chế yếu kém trong chỉ đạo điều hành; Kế hoạch thực hiện quy chế dân chủ năm 2020; Kế hoạch cải cách hành chính năm 2020, kế hoạch kiểm tra việc thực hiện kỷ luật kỷ cương hành chính, Văn thư lưu trữ, kế hoạch luân chuyển cán bộ quản lý ngành giáo dục; Kế hoạch và các Chỉ thị tổ chức đón Tết Canh Tý 2020;…

               - Tập trung chỉ đạo khắc phục những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, chuẩn bị các điều kiện ứng phó với thiên tai; quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ đời sống cho nhân dân, khôi phục sản xuất sau lũ; tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư phát triển, tháo gỡ các khó khăn về đất đai, thủ tục hành chính cho doanh nghiệp phát triển sản xuất; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kỷ luật, kỷ cương hành chính trong công tác chỉ đạo điều hành; tình hình chính trị ổn định, ANTT được đảm bảo.

               - Chỉ đạo triển khai kịp thời, đúng quy định chính sách hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng dịch Covid-19 theo Nghị quyết của Chính phủ. Trong thời gian thực hiện Chỉ thị số 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch Covid-19 và Chỉ thị số 16/CT-TTg về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, nhiều ngành kinh tế bị ảnh hưởng nặng, nhất là các ngành trong khối dịch vụ, như: du lịch, bán lẻ hàng hoá, vận tải, lưu trú, ăn uống, giáo dục, y tế, các hoạt động vui chơi giải trí khác,… Sang tháng 5/2020, ngay sau khi thực hiện việc nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội, thiết lập trạng thái bình thường mới, tình hình kinh tế – xã hội tháng 5 và tháng 6/2020 đã có nhiều biến chuyển tích cực. Toàn huyện bước vào giai đoạn mới, phòng chống dịch bệnh đồng thời gắn với khôi phục và phát triển kinh tế. Trong điều kiện gặp khó khăn lớn, nhưng kinh tế – xã hội của huyện 6 tháng đầu năm đạt được những kết quả: kinh tế vẫn tăng trưởng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng, thu ngân sách đạt trên 50% dự toán giao cả năm, lĩnh vực văn hóa xã hội tiếp tục được quan tâm chăm lo và chỉ đạo thực hiện tốt trong điều kiện dịch bệnh Covid-19; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững.

Giới Thiệu Một Số Giống Gà Thả Vườn Việt Nam

Gà thả vườn bao gồm các giống gà nội như như gà Ri, gà Mía, gà Đông Tảo, gà Tàu và số lượng rất ít là gà Tây.

Nội dung trong bài viết

Gà thả vườn nội

Gà Ri

Phân bố rộng toàn miền đất nước nhưng đã bị pha tạp nhiều, sắc lông không đồng nhất. Gà mái có màu vàng, nâu, nâu nhạt, đen hoặc lốm đốm hoa mơ.

Gà trống màu tía hoặc vàng, có nơi pha lông đen như ở vùng Sơn Tây, Ninh Bình. Đầu thanh, đa số mào đơn. Da chân vàng, chân có 2 hàng vẩy, thịt vàng. Khối lượng 1 năm tuổi con trống nặng 1,8 – 2,5 kg, mái nặng 1,3 – 1,8 kg. Gà Ri phát dục sớm: 4 – 4,5 tháng đã bắt đầu đẻ. Sản lượng trứng năm 90 – 110 trứng. Nếu nuôi tốt, thực hiện chế độ cai ấp có con cho sản lượng trứng 164 – 182 quả (kết quả nghiên cứu của Viện Chăn nuôi, 1970). Khối lượng trứng 42 – 43 g. Thịt và trứng thơm ngon, tỷ lệ lòng đỏ cao (33,8%), nuôi con khéo, chịu đựng tốt, nhưng tầm vóc bé, trứng bé, sản lượng trứng thấp và tính đòi ấp cao.

Gà Đông Tảo

Gà ở thôn Đông Tảo, Khoái Châu, Hưng Yên. Sắc lông gà mái màu nâu bạc. Gà trống lông tía. Đặc điểm: đầu to, mào nụ, mắt sâu, chân to xù xì có nhiều hàng vảy, xương to, nhiều thịt nhưng thịt không mịn, da đỏ. Tiếng gáy đục và ngắn. Mái nặng 2,5 – 3 kg, trống nặng 3,5 – 4 kg. Sản lượng trứng năm 55 – 60 quả. Khối lượng trứng 55 – 57 g. Ưu: tầm vóc lớn, khối lượng trứng to. Nhược: xương to, đẻ ít, mọc lông muộn.

Gà Hồ

Nguồn gốc làng Hồ, Bắc Ninh, sắc lông gà mái màu trắng sữa, màu vỏ nhãn hay màu đất thó. Gà trống màu tía, đầu cổ to, da đỏ. Chân hai hàng vảy, mào đơn. Mái trưởng thành nặng 2,5 – 3 kg, trống nặng 3,5 – 4 kg. Tuổi đẻ muộn 7,5 – 8 tháng. Sản lượng trứng năm 50 – 55 quả. Khối lượng trứng 55 – 58 g.

Gà Mía

Nguồn gốc ở huyện Tùng Thiện, xã Phùng Hưng, Hà Tây, bị pha tạp nhiều, sắc lông gà trống màu tía, gà mái màu nâu xám hoặc vàng. Đầu to, mắt sâu, mào đơn, chân thô có 3 hàng vẩy, da bụng đỏ. Khối lượng gà mái trưởng thành 2,5 – 3 kg, trống 3,5 – 4 kg. Tuổi đẻ muộn 7-8 tháng. Sản lượng trứng 55 – 50 quả, nặng 50 -55g.

Gà Phù Lưu Tế

Gà Phù Lưu Tế ở xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Ngoại hình và năng suất giống gà Đông Tảo. Có ý kiến cho rằng gà Phù Lưu Tế có nguồn gốc từ gà Đông Tảo.

Gà Văn Phú

Nuôi nhiều ở Phú Thọ. Lông đen, chân chì, xương nhỏ. Một năm tuổi trống nặng 3,2kg, mái nặng 2-2,3 kg. Sản lượng trứng khá, một năm đẻ 80-100 trứng, khối lượng trứng 45g.

Gà Ô

Nuôi nhiều ở vùng Hà Giang, Lào Cai. Mình dài, thon, đùi to, lông đen, chân chì, cổ khoẻ, đầu dài, mỏ quặp, mắt lồi. Đây là một giống gà dùng để nuôi chọi. Một năm tuổi trống nặng 3,2-3,5 kg, mái nặng 2,5-2,8 kg. Sản lượng trứng năm 60-70 quả, khối lượng trứng 58-59 g.

Gà Nam Bộ

Hướng cho thịt và trứng. Màu lông vàng hoặc lốm đốm trắng. Chân có lông. Năng suất tương tự gà Văn Phú. Gà Nam Bộ có nguồn gốc là gà Cô – Khanh – Khin hay Lang San (Trung Quốc).

Gà Ác (Trà Vinh, Long An, Tiền Giang)

Gà Ác màu lông trắng xù như bông. Da, thịt, xương, mỏ, chân đều màu đen. Mào cờ đỏ bầm. Chân có hoặc không có lông và 5 ngón nên còn gọi là gà “ngũ trảo”. Sức sống cao, tỷ lệ sống từ mới nở đến 8 tuần tuổi đạt 98%. Phát dục sớm 110-120 ngày có thể đẻ. Sản lượng trứng năm 70 – 80 quả, nặng 30 – 32 g. Đây là loại gà thuốc, bồi dưỡng sức khoẻ cho nam phụ lão ấu. Tỷ lệ sắt (Fe) trong thịt cao hơn gà thường là 45%, tỷ lệ axit amin cao hơn 25%.

Gà Ta vàng

Ở miền Nam, phân bố rộng như gà Ri miền Bắc (Đông Nam bộ – Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh). Lông màu vàng có con pha lẫn màu đen, Con mái đầu thanh, mỏ vàng, mào đơn đỏ, tích và dái tai màu đỏ, cổ ngắn vừa phải, chân thấp có 2 hoặc 2,5 hàng vảy. Năng suất giống gà Ri.

Gà Tre

Vóc dáng nhỏ, thịt thơm ngon. Sáu tháng tuổi trống nặng 800-850 g, mái nặng 600-620 g. Đầu nhỏ, mào hạt đậu. Con trống thường có màu vàng ở cổ và đuôi, phần còn lại màu đen, lông dài. Lông con mái thường màu xám xen lẫn màu trắng. Sản lượng trứng 50-60 quả, nặng 21-22 g. Có nơi dùng gà Tre để làm cảnh và thi chọi.

Gà Nòi (còn gọi là gà Chọi)

Số lượng không nhiều, rải rác nhiều nơi, thường nuôi để đi thi gà chọi. Vùng Hóc Môn và các tỉnh miền Đông thường cho lai với gà ta để nuôi lây thịt. Đặc điểm: màu lông đen xám, pha lẫn màu vàng tươi, lông đuôi đen, đầu to, mỏ màu đen, mào hạt đậu, tích và dái tai màu đỏ, mắt đen có vòng đỏ, cổ dài và to. Thân dài rộng, lưng ngang phẳng, chân cao có vảy đen xám, cựa aắc và dài. Một năm tuổi trống nặng 2,5-3 kg, mái nặng 1,8- 1,9 kg. Sản lượng trứng 50-60 quả, vỏ trứng màu hồng.

Gà Tầu vàng

Phổ biến chủ yếu ở miền Nam, pha tạp nhiều. Mào đơn hoặc hạt đậu. Lông vàng. Chân có lông ở bàn, có khi ở cả ngón. Trưởng thành trông nặng 3kg, mái 2kg. Sản lượng trứng 70-90 quả, nặng 45-50g.

Gà ta lai gà Miên

Thường gặp ở vùng Tây Ninh, vùng giáp Miên. Đầu to vừa phải, mỏ màu vàng nhạt hoặc đen, mào hoa dâu, mắt màu nâu đen. Thân mình nhỏ, 12 tháng tuổi trống nặng 2-2,1 kg, mái nặng 1,6-1,65 kg. Khả năng chống bệnh tốt. Năng suất tương tự gà Ta vàng.

Gà ta lai gà rừng

Thường gặp ở huyện Bình Long tỉnh Bình Phước. Đầu con trống khá to, cổ dài 12-15 cm, mống mắt màu đỏ, mỏ màu trắng ngà, gốc sống mỏ có pha màu đen. Trống có mào đơn, mào mái hình hạt đậu, tích đỏ, dái tai trắng, chân màu chì. Sản lượng trứng 50 – 70 quả. Khối lượng trứng bé 28 – 29g. Khả năng chịu đựng rất cao.

Gà thả vườn nhập nội

Gà Tam Hoàng

Nhập vào nước ta từ Trung Quốc, Hồng Kông có 3 dòng: S82, Jiangcun (Giang thôn), Lương Phượng.

+ Dòng 882 màu lông vàng hoặc lốm đốm đen, đa số có cườm cổ. Ở 11 tuần tuổi trống nặng 1400-1450 g, mái nặng 1200g. Sản lượng trứng năm 155 quả, tiêu tốn thức ăn/10 trứng 3,200 kg.

+ Dòng Giang thôn (Jiangcun) lông màu vàng tuyền, 11 tuần tuổi trống nặng 1300g, mái nặng trên dưới lkg. Sản lượng trứng năm 270 quả, tiêu tốn thức ăn/10 trứng từ 2,9-3,0 kg.

+ Dòng Lương Phượng lông vàng hoặc lốm đốm hoa, 11 tuần tuổi trống nặng 1900g mái nặng 1300g. Sản lượng trứng năm 158 – 160 quả, tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng là 3,3kg.

Gà Sasso

Do hãng Sasso (Pháp) tạo ra, có nhiều dòng nhưng nước ta mới nhập 2 dòng SA31 và SA51. Gà có màu lông nâu vàng hoặc nâu đỏ, màu đơn; chân, da, mỏ rất vàng. Gà có sức chịu đựng tốt với điều kiện nóng ẩm. Dòng SA31 có sản lượng trứng 66 tuần tuổi là 187 quả. Khối lượng mái 20 tuần nặng 2010g. Dòng SA51 có sản lượng trứng 197 quả ở 66 tuần tuổi. Khối lượng mái 20 tuần trên dưới 1500g.

Gà Kabir (Israel)

Nhập vào nước ta tháng 7/1999 và được người nuôi ưa chuộng, sức sống tốt, phù hợp với điểu kiện khí hậu Việt Nam. Gà có màu lông nâu vàng hoặc đỏ vàng. Khối lượng cơ thể mái ở 20 tuần tuổi từ 2000 – 2100 g. Sản lượng trứng 70 tuần tuổi trên dưới 200 quả. Khối lượng trứng 57 – 58 g.

Gà thả vườn cải tiến trong nước

Gà BT1, BT2

Được lai tạo tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi Bình Thắng trên đối tượng gà Goldline 54 và gà Rhode Ri. Gà có màu lông nâu nhạt, mào đơn, khối lượng cơ thể 20 tuần trống nặng 2000 – 2200 g, mái nặng 1500 – 1700 g. Sản lượng trứng năm 180 – 200 quả, khối lượng trứng 54 – 55 g.

Gà Rhode Ri

Do Viện Chăn nuôi lai tạo, được công nhận nhóm giống năm 1985. Gà có màu lông nâu nhạt, mào đơn.

Chân và da vàng. Sản lượng trứng năm 180 – 203 quả, khối lượng trứng 51 – 52g. Ở 20 tuần tuổi trống nặng 2000g, mái nặng 1600 – 1700 g.

Gà Đông Tảo Hưng Yên Đặc Sản Tiến Vua ” Thế Giới Ẩm Thực

Gà Đông Tảo Hưng Yên:

Gà Đông Tảo có hình dáng khác với những giống gà bình thường bởi chúng thường nặng từ năm đến bảy cân một con, đầu hình gộc tre, thân giống con cóc, cánh giống như hai con trai úp vào thân, đuôi như nơm úp cá, mào mâm xôi, da đỏ chót, chân to sần sùi như chân voi.

Thứ gà này đòi hỏi phải kỳ công chăm sóc và khó nuôi, gà càng già càng quý, thịt ăn thường có mùi vị thơm ngon đặc trưng không lẫn với bất kỳ loại gà nào, lại chế biến được phong phú món đặc sản nên rất đắt tiền.

Thứ gà tiến vua này lúc nhỏ da đỏ chót, chỉ lơ thơ lông, giống hệt như gà cánh tiên, đến khi lớn dày lông, chân to như chân voi, thịt chắc nịch.

Các món ngon từ gà Đông Tảo:

Một con gà Đông Tảo to thường được chế biến bảy đến chục món mà món nào cũng độc đáo.

Thịt gà Đông Tảo luộc, nấu đông, xáo măng, quay chảo, nướng lá chanh sao cho lớp da bên ngoài giòn, thớ thịt bên trong mềm thơm phức.

Các bộ phận khác của giống gà này cũng có thể chế biến thành nhiều kiểu lạ miệng, lòng gà xào xả ớt ăn giòn tan, bùi bùi, cay cay.

Da gà Đông Tảo rất dày, thậm chí có thể vài lạng, dân nhậu thường khoái món da gà thái chỉ xào lá chanh hay chọn lấy phần da cổ thái nhỏ trộn thính nếp ăn kèm rau mùi, đinh lăng, lá sung cuộn lại ăn giòn sần sật rất “đưa đẩy” rượu.

Món ăn từ thịt gà Đông Tảo:

Ngoài ra, với thịt thơm ngon, phần đùi gà hấp chấm mắm tôm ăn kèm lá mơ ngon không khác món giả cầy.

Thịt gà Đông Tảo nấu nước cốt chanh ăn có tác dụng giải cảm, trị chứng mệt mỏi cơ thể.

Món ăn từ chân gà Đông Tảo:

Nhưng có lẽ, thơm ngon nhất, độc đáo nhất là món ngon từ cặp chân voi mà người sành thưởng thức hay ví von là món “vảy rồng hầm thuốc bắc”, lớp vảy dày khi hầm vẫn giữ được độ sừn sựt không bị mềm nhũn, khi hầm thuốc bắc, người đầu bếp thường ninh luôn hai hòn ngọc kê của chú Đông Tảo trống để nước hầm được thơm ngọt.

Thường một nồi “vảy rồng hầm thuốc bắc” với hai cái chân cũng phải đôi ba người ăn mới hết bởi nó rất to, cắn một miếng mà thấy thơm mùi thịt, mùi da.

Từ một con gà Đông Tảo, người đầu bếp có thể chế biến tha hồ các món đặc sản đắt khách, vị thơm ngon của thịt và da gà Đông Tảo không lẫn được.

Tuy nhiên, gà Đông Tảo được xem là quý hiếm và đắt tiền bởi việc duy trì giống không dễ dàng. Những chú gà mái Đông Tảo khi đẻ trứng xong thường dùng chân voi để đạp vỡ trứng nên người nuôi lấy được trứng của chúng rất khó. Ngày nay, giống gà ngon thịt này luôn được chú ý giữ gìn và nhân giống.

Cập nhật thông tin chi tiết về Giới Thiệu Ý Yên – Nam Định – Ý Yên Online trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!