Xu Hướng 2/2023 # Đặc Điểm Ngoại Hình Của Giống Gà Ác # Top 8 View | Raffles-design.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đặc Điểm Ngoại Hình Của Giống Gà Ác # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Đặc Điểm Ngoại Hình Của Giống Gà Ác được cập nhật mới nhất trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Gà Ác là giống gà nội có thân hình nhỏ, bộ lông trắng xước ; chân có 5 ngón (ngũ trảo) và có lông bao phủ ; da, thịt, xương và mỏ đều đen. Gà trống có mào cờ đỏ thẫm, gà mái có mào cò nhưng đỏ nhạt. Khác với gà da đen, thịt đen, xương đen của nhiều nước trên thế giới, giống gà Ác Việt Nam không có chỏm lông ở trên đầu. Gà Ác có tính tình hiền lành, khả năng chịu đựng kham khổ tốt.

Theo một số tác giả, giống gà thịt đen, xương đen là giống gà có từ lâu đời do Marco Polo phát hiện ra từ thế kỷ 13 ở Trung Quốc. Giống gà này là sự đột biến ngẫu nhiên giữa các giống gà hoặc có thể từ gà hoang. Giới hạn gen của giống gà này dựa trên cơ sở biểu hiện bên ngoài ở sự suy thoái đồng hợp tử và từ đó chúng tiếp tục được ghép phối thuần, dựa trên cơ sở nguồn gen của chúng là đồng hợp tử lặn. Cũng giống như một số giống gà Orpington, Wyandotten, Minorkas và gà da đen, thịt đen, xương đen đều mang gen lặn lông màu trắng c. Kiểu hình biểu hiện ra ngoài của lông gà trưởng thành không có sự khác nhau giữa màu lông trắng trội hay trắng lặn. Việc xác định chỉ có thể dựa trên cơ sở phân tích qua lai tạo. Ở gà con giống mang gen trắng trội, biểu hiện bên ngoài hơi vàng hơn gà có màu lông trắng lặn.

Khả năng sinh sản và sản xuất trứng

Gà Ác thành thục về tính dục sớm (113 – 125 ngày) (tuổi thành thục về tính dục được tính từ khi gà bắt đầu đẻ quả trứng dầu tiên đối với từng cá thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5% đối với đàn quần thể), trong khi đó gà Ri là 135 – 144 ngày, gà Đông Tảo là 165 ngày, gà Hồ 240 – 255 ngày… Tỷ lệ đẻ của gà Ác thấp chỉ đạt từ cao nhất là 40,2%, Sản lượng trứng bình quân đạt 80,4 – 105 quả/mái/năm. Khối lượng trứng nhỏ chỉ đạt bình quân từ 30 – 31g nhỏ nhất trong các loại trứng gà nội, tuy vậy nhưng tỷ lệ lòng đỏ lại khá cao 36,8% (cao nhất so với các loại trứng gia cầm khác), chỉ số Haugh đạt 82,9.

Thành phần dinh dưỡng của trứng gà Ác cao, hàm lượng protein chiếm 17,6%, hàm lượng mỡ trong trứng đặc biệt cao, đây là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng vì mỡ trong trứng thường ở dạng nhũ hoá và dễ tiêu hoá. Trứng gà Ác rất nhỏ nên phải có chế độ ấp nở riêng thì mới đạt hiệu quả kinh tế cao. Một số hộ nông dân chăn nuôi theo phương thức bán chăn thả hoặc chăn thả tự do thường cho gà mẹ ấp, tỷ lệ nở /tổng số trứng ấp có khi lên đến 100%. Trong điều kiện chăn nuôi tập trung, tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 10 quả trứng giống là 2,32 kg, ở mức trung bình so với các giống gà nội khác.

Khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt

Tỷ lệ nuôi sống của gà Ác khá cao đạt 93,6 – 96,9%. Gà Ác có khả năng chịu nóng tốt nhưng chịu lạnh kém. Nếu trong những tuần đầu gà được sưởi ấm tốt, tỷ lệ nuôi sống thậm chí đạt đến 100%. Gà Ác có khối lượng cơ thể nhỏ. Khối lượng 1 ngày tuổi, trung bình gà mái đạt 18,5g và gà trống là 18,8g, tương tự như vậy ở 4 tuần tuổi là 114,6g và 128,6g và ở 9 tuần tuổi là 378,6g và 466,9g. Mức độ tăng khối lượng tuyệt đối thấp chỉ đạt cao nhất là 11,1g ở 9 tuần tuổi. Mức độ tăng khối lượng tuyệt đối ở gà Ác là thấp nhất so với các giống gà nội khác. Mức tiêu thụ thức ăn hàng ngày của gà Ác thấp (26,2 – 38g/con/ngày ở 9 tuần tuổi). Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng trong điều kiện nuôi nhốt của gà Ác ở mức trung bình so với các giống gà nội khác (3,31kg/kg tăng khối lượng ở 9 tuần tuổi).

Tiến hành mổ khảo sát gà Ác ở 3 thời điểm khác nhau (7,8 và 9 tuần tuổi) cho thấy tỷ lệ thịt xẻ của gà Ác dao động từ 69,5 đến 72,9%, tỷ lệ này có cao hơn chút ít so với gà xương đen Trung Quốc (65,6% ở thời điểm giết mổ là 13 tuần tuổi). Tỷ lệ các phần thân thịt của gà Ác đạt được là tương đương với các giống gà nội khác. Kết quả mổ khảo sát ở 3 thời điểm cho thấy: Tuổi giết mổ thích hợp của gà Ác là 8 tuần tuổi vì lúc này tỷ lệ các phần thân thịt đều cao hơn ở tuần tuổi thứ 7 và cao hơn hoặc bằng ở tuần tuổi thứ 9.

Phẩm chất thịt của gà Ác

Đánh giá phẩm chất thịt gà Ác ở 8 tuần tuổi cho thấy: Thịt gà Ác có màu đen. Bản chất của sắc tố đen chủ yếu là do hàm lượng melenin trong thịt đóng vai trò quyết định. Yếu tố ảnh hưởng chính ở đây là do di truyền.

Đánh giá chất lượng cảm quan ta thấy thự gà được đánh giá là có vị ngon nhất so với thịt gà Ri và ga công nghiệp. Sự hao hụt khối lượng sau khi chế biến (luộc) của thịt gà Ác là thấp nhất 19,2% so với 21,3% ở gà Ri và 26,2% ở gà công nghiệp. Độ pH của thịt gà Ác sau khi giết mổ 24 giờ đạt bình quân là 5,9 – 6,4 nằm trong khoảng cho phép. Độ pH này có ảnh hưởng lớn đến độ dai và khả năng giữ nước của thịt, chính vì vậy mà tỷ lệ hao hụt khi nấu thấp. Hàm lượng collagen trong thịt gà Ác cũng đạt rất cao, chính vì vậy mà độ dai chắc của thịt gà Ác cao (gà Ác được giết mổ ở 8 tuần tuổi với khối lượng chỉ đạt 309 g nhưng thịt lại rất dai chắc). Trong thực tế người ta đã cố gắng cải thiện độ dai chắc của thịt bằng cách sử dụng các tác nhân vật lý (áp suất cao) để làm cho thịt gia cầm dai chắc hơn làm tăng tính ngon miệng. Khả năng giữ nước trong thịt gà Ác cao (31,5 – 33,1%) trong khi đó ở thịt gà broiler chỉ đạt 15,1% và ở thịt đùi gà tây chỉ đạt 12,8%.

Hàm lượng protein trong thụ gà Ác đạt tương đối cao (21,9 – 24,6%) trong khi đó ở thịt gà Ri là 21,1 – 23,6%), hàm lượng mỡ thấp (0,6 – 2,0%). Hàm lượng protein cao, hàm lượng mỡ thô trong thịt gà Ác củng tương đối cao làm tăng tính ngon miệng của người tiêu dùng, điều này cũng phản ánh kết quả đánh giá chất lượng cảm quan của thịt gà Ác là hoàn toàn chính xác. Thịt gà Ác có chứa tới 16 acid amin với hàm lượng tương đối cao, đặc biệt là các acid aniin không thay thế như Histidine (0,9%), Threonine (1,1%), Arginine (1,5%), Phenylalanine (1,0%), Isoleucine (1,1%), Leucine (2,0%), Lysine (2,0%). Hàm lượng acid béo trong thịt gà Ác cũng rất cao và biến động rất lớn, đặc biệt có chứa hầu hết các acid béo quan trọng. Hàm lượng các acid béo không no mạch đa đạt từ 14,4 – 21,0%, acid béo không no mạch đơn chiếm 17,02 – 28,15%. Tỷ lệ các acid béo omega 3/omega 6 đạt 0,43 – 1,14% là hoàn toàn hợp lý. Thịt gà Ác có chứa hầu hết các acid béo cần thiết và hàm lượng một số acid béo không no mạch đa rất cao so với thịt gà broiler như acid béo arachidonic (C20:4) (3,94% so với 0,53%). Hàm lượng một số các nguyên tố khoáng vi lượng trong thịt gà Ác tương đối cao như Sắt: 19,0 – 23,0 mg, cao gấp 11 – 16 lần so với thịt gà broiler. Hàm lượng Mangan cao gấp 8,6 lần, Đồng cao gấp 1,5 lần. Hàm lượng các nguyên tố khoáng đa lượng cũng rất cao như Natrium đạt 215,7 mg, Kalium đạt 441 mg, Calcium đạt 7,1 mg. Hàm lượng vitamin A trong thịt gà Ác đạt 50,7 -56,0 ug/100g cao hơn thịt gà broiler (26ng/100g). Vitamin A đóng vai trò quan trọng tham gia vào quá trình tổng hợp protein, thẩm thấu của tế bào, xây dựng và bảo vệ tế bào biểu mô, tổng hợp steroid (hormon sinh sản, hormon tuyến trên thận) và tiêu hoá carbonhydrate, cấu thành nên bộ xương. Thịt gà Ác chính là nguồn bổ sung vitamin A cần thiết cho cơ thể.

Các kết quả phân tích về phẩm chất thịt của gà Ác đã góp phần quan trọng phản ánh giá trị đặc biệt của thịt gà Ác Việt nam.

Đặc Điểm Ngoại Hình Và Khả Năng Sản Xuất Của Gà Ri

1. Đặt vấn đề

Theo số liệu của Tổ chức Nông Lương thế giới (2019), năm 2017, toàn thế giới có khoảng 22.847.062.000 con gà, Việt Nam có khoảng 295.209.000 con gà, đứng thứ 14 thế giới về số lượng gà.

Chăn nuôi gà ở Việt Nam vẫn đang có xu hướng phát triển, đặc biệt các giống gà lông màu, gà địa phương đang được nhiều hộ dân quan tâm đầu tư, trong đó có gà Ri vì có lợi thế về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Giá gà Ri hiện nay ở Hà Tĩnh, khoảng 140.000 – 150.000 đ/kg hơi, đắt gấp khoảng 2 lần so với gà Ri lai nuôi 12 – 14 tuần tuổi (75.000 đ/kg hơi), gấp khoảng 5,5 lần so với gà công nghiệp.

2.1. Đặc điểm ngoại hình của gà Ri

Gà Ri là giống gà nội được nuôi rộng rãi trong cả nước, nhất là các tỉnh phía Bắc. Ở các tỉnh phía Nam có tên gọi là gà ta vàng. Tuỳ theo sự chọn lọc trong quá trình chăn nuôi mà giống gà Ri có nhiều loại hình tương đối khác nhau ở mỗi địa phương. Tuy vậy, những nét đặc trưng nhất của gà Ri là tầm vóc nhỏ, chân thấp. Gà mái có bộ lông vàng nhạt, hoặc vàng nâu có điểm lông đen ở cổ, lưng. Gà trống có bộ lông sặc sỡ nhiều màu hơn. Lông cổ đỏ tía hoặc da cam, lông cánh ánh đen. Ở cả con trống và con mái có mào đơn nhiều khía răng cưa, màu đỏ tươi. Chân, da, mỏ có màu vàng nhạt. Gà Ri mọc lông sớm, chỉ hơn một tháng tuổi đã mọc đủ lông (Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn, 2001).

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1999), gà Ri là giống gà phổ biến nhất mọi vùng, mọi miền. Tùy theo sự chọn lọc trong quá trình chăn nuôi mà giống này hình thành nên các dòng gà Ri có thể hình, màu sắc khác nhau ít nhiều ở mỗi địa phương. Thông thường và phổ biến nhất, thì gà mái có lông màu vàng và nâu nhạt, điểm các đốm đen ở cổ, đầu cánh và chót đuôi. Gà trống có bộ lông sặc sỡ nhiều màu, nhất là lông cổ và đuôi chiếm ưu thế nhất là lông màu vàng đậm và tía, sau đó là vàng nhạt hoặc trắng ở cổ. Rất ít khi thấy gà Ri có màu lông thuần nhất. Gà con mọc lông sớm chỉ hơn một tháng gà đã đầy đủ lông như gà trưởng thành.

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015), đến nay, chưa rõ nguồn gốc của gà Ri. Gà Ri phân bố hầu khắp các địa phương trong cả nước, đặc biệt là miền Bắc và miền Trung. Đặc điểm ngoại hình rất đa dạng, gà mái: lông màu vàng rơm, vàng đất hoặc nâu nhạt, xung quang cổ có hàng lông đen, mào kém phát triển, lá tai chủ yếu là màu đỏ, một số lá tai màu trắng. Gà trống: màu lông phổ biến là đỏ thẫm, đầu lông cánh và đuôi có lông đen ánh xanh, ngoài ra còn có các màu: trắng, hoa mơ đốm trắng. Mào cờ, mào và tích đỏ tươi, rất phát triển. Gà Ri có da màu vàng là chủ yếu, một số da trắng. Chân 4 ngón, có hai hàng vảy màu vàng xen lẫn màu đỏ tươi.

Các tác giả Bùi Đức Lũng và cs (2005) đã công bố kết quả nghiên cứu chọn lọc và nhân thuần gà Ri màu vàng rơm sau 3 thế hệ, kết quả về ngoại hình như sau: Sau khi lấy trứng ấp từ những gà mái lông vàng rơm thế hệ xuất phát, tỷ lệ gà 1 ngày tuổi màu vàng rơm đặc trưng tăng lên rõ rệt chiếm 32,8 %. Giai đoạn 9 tuần tuổi, gà trống và mái có màu vàng rơm đạt 100 % sau khi đã chọn lúc 1 ngày tuổi, thân hình thanh tú, thon nhẹ, đầu nhỏ, đầu cánh và chót đuôi điểm những lông đen. Chân, mỏ, da có màu vàng. Giai đoạn 19 và 38 tuần tuổi: Gà mái toàn thân màu vàng rơm, điểm những lông đen quanh cổ, đầu cánh và chót đuôi. Mào đơn, lá tai màu cẩm thạch. Gà trống dáng chắc khoẻ, ngực vuông, quanh cổ phát triển lông cườm đỏ tía óng ánh, đuôi có điểm vài lông màu xanh đen. Mào đơn, chân có 2 hàng vẩy.

Hình 1. Ảnh gà Ri ( Nguồn: Viện Chăn nuôi)

Gà Ri vàng rơm là sản phẩm của đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và tính năng sản xuất của giống gà Ri qua 3 đời chọn lọc” do Viện Chăn nuôi chủ trì từ năm 1999 kéo dài đến năm 2001. Bằng phương pháp nuôi bán chăn thả kết hợp hình thức nuôi cổ truyền, qua 3 đời gà, Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi (Viện Chăn nuôi) đã thu được giống gà Ri vàng rơm có lông màu vàng rơm chiếm gần 70%. Đặc điểm nhận biết của loại gà này là: Gà trống toàn thân phủ màu vàng rơm, thân hình thanh tú, chóp đuôi có điểm vài lông đen. Khi trưởng thành thân hình khỏe mạnh, lông vàng sặc sỡ, mào to đỏ dựng đứng, mỏ và chân đều màu vàng; gà mái thân thon nhẹ, lông phủ màu vàng rơm, đầu nhỏ, mào đơn, chân có hai hàng vảy, mỏ và chân có màu vàng tương tự gà trống (Nongnghiep.vn, 2012).

Tác giả Nguyễn Minh Hoàn và cs (2014) đã nghiên cứu từ quần thể gà địa phương gồm 400 cá thể, đã chọn lọc theo các tiêu chuẩn về màu sắc lông, hình thái cơ thể của gà đã cho kết quả như sau: Tỷ lệ gà có màu vàng rơm tăng lên qua các thế hệ, cụ thể ở thế hệ I gà có màu vàng rơm chiếm 37,8 % và thế hệ II là 50,0% so với 19,5 % ở thế hệ xuất phát.

Hình 2. Ảnh gà Ri vàng rơm Nguồn: Viện Chăn nuôi

Theo Thư Viện Bộ NN và PTNT (2015), tác giả Ngô Thị Kim Cúc và cs đã nghiên cứu về gà Ri hoa mơ, ngoại hình như sau:

Kết quả theo dõi ba thế hệ gà Ri hoa mơ cho thấy kiểu mào của đàn gà Ri hoa mơ là mào cờ. Màu da là màu vàng. Màu lông vẫn còn đa dạng, chưa ổn định, tuy nhiên chủ yếu vẫn là màu lông hoa mơ. Tỷ lệ màu lông hoa mơ của đàn gà ở thế hệ 2 đã được nâng lên 8,5% so với thế hệ xuất phát (từ 53,5% ở thế hệ xuất phát lên 62,0% ở thế hệ 2).

2.2. Khả năng sản xuất của gà Ri

Gà Ri là giống nhẹ cân, gà mái: 1,2 – 1,8 kg, gà trống: 1,8 – 2,3 kg. Gà trống thiến nuôi lâu có thể đạt 2,5 kg hoặc hơn. Sức đẻ: 90 – 120 trứng/mái/năm. Khối lượng trứng bình quân: 38 – 42 gam. Nếu nuôi bán chăn thả, sản lượng trứng gà Ri có thể đạt 125 – 130 quả/mái/năm. Gà Ri thành thục sinh dục sớm (141 ngày). Gà có đặc điểm nổi bật là cần cù, chịu khó kiếm ăn, sức chống chịu với thời tiết, bệnh tật cao, nuôi con khéo, thịt có hương vị thơm ngon, nhất là gà mái tơ. Do các ưu và nhược điểm ở trên, gà Ri thích hợp với chế độ dưới chăn thả, hoặc bán chăn thả. Trong tương lai khi ngành gia cầm nuôi các giống cao sản phát triển, thì gà Ri có thể sẽ được coi như là một đặc sản (Nguyễn Duy Hoan, 1999).

Gà Ri có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên sớm, khoảng 135 – 140 ngày. Sản lượng trứng một năm đạt từ 80 – 120 quả/mái. Trứng có khối lượng bé 42 – 45 gam, vỏ trứng màu nâu nhạt; tỷ lệ trứng có phôi 89 – 90%, tỷ lệ ấp nở 80 -85%. Lúc mới nở gà Ri đạt 25 – 28 gam; lúc bắt đầu đẻ, khối lượng gà mái khoảng 1200 – 1300 gam; lúc trưởng thành đạt 1700 – 1800 gam, gà trống 2200 – 2300 gam. Chất lượng thịt gà Ri thơm ngon và đậm đà. Gà Ri có ưu điểm nổi bật là cần cù, chịu khó kiếm ăn, sức chống chịu với thời tiết và bệnh tật cao, gà ấp và nuôi con khéo. Tuy khối lượng trứng gà Ri bé, nhưng tỷ lệ lòng đỏ lại cao hơn trứng gà công nghiệp. Tỷ lệ lòng đỏ của trứng gà Ri là 34%, trong khi ở các giống khác chỉ chiếm 27 – 30%. Màu sắc lòng đỏ của trứng gà Ri cũng đậm hơn. Có thể nói rằng, trong các giống gà nội, gà Ri có sức đẻ trứng tốt nhất, gà không những đẻ trứng sớm mà thời gian đẻ kéo dài. Gà Ri không thay lông ồ ạt như các giống gà công nghiệp nên tỷ lệ đẻ đều qua các tháng. Tỷ lệ đẻ trung bình trong năm là 36 – 37%, tuần đẻ cao nhất 20 -22%. Một ưu điểm nữa của gà Ri so với các giống gà lông màu nhập nội là có thể khai thác gà mái ở năm đẻ thứ hai thậm chí năm đẻ thứ ba. Với khẩu phần thức ăn nghèo dinh dưỡng (13 – 14% đạm) cũng vẫn nuôi được gà Ri đẻ trứng. Với những ưu điểm nêu trên, bao đời nay gà Ri là giống vật nuôi phổ biến trong các gia đình nông thôn nước ta (Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn, 2001).

Khả năng sản xuất, theo các kết quả nghiên cứu được công bố của Lê Viết Ly, 2001; Át lát vật nuôi, 2004; Nguyễn Đăng Vang, Nguyễn Thanh Sơn, 2000; Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006 (dẫn từ Trần Thanh Vân và cs, 2015) thì: Gà Ri có khối lượng mới nở là 30 – 31g; 6 tháng tuổi ở gà mái là 1130 g, ở gà trống là 1636 g; đến 12 tháng tuổi ở gà mái là 1246 g, ở gà trống là 2735 g. Thịt thơm ngon màu trắng. Thành thục về tính sớm, gà trống 2 – 3 tháng tuổi đã biết gáy và đạp mái, gà mái 4 tháng tuổi đã bắt đầu đẻ trứng. Số lượng trứng/lứa/mái từ 13 – 15 quả. Năng suất trứng có thể đạt từ 70 – 125 quả. Tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,6 %, tỷ lệ nở/trứng có phôi là 78 %, tỷ lệ gà con loại 1 đạt 94,1 %.

Gà Ri thích nghi với điều kiện nuôi bán chăn thả, không xuất hiện mổ cắn nhau. Giai đoạn hậu bị: Đến 19 tuần tuổi, gà mái đạt 1245g, gà trống đạt 1735,5 g. Tỷ lệ nuôi sống 86,6 %. Tiêu thụ thức ăn cả giai đoạn là 6,28 kg/con. Khả năng sinh sản: Tuổi thành thục 134 ngày tuổi. Tỷ lệ đẻ đạt 5 % ở 138 ngày tuổi, lúc này khối lượng cơ thể đạt 1280g. Đến 156 ngày tuổi, tỷ lệ đẻ đạt 30 %, khối lượng đạt 1330 g. Sản lượng trứng đạt 126,8 quả; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 2,61 kg. Khối lượng trứng ở tuần tuổi 67 là 48,60 g. Khối lượng lòng đỏ cao chiếm 34,79 % so với khối lượng trứng; Đơn vị Haugh là: 90,80. Tỷ lệ trứng có phôi là 90,3 – 96,8 %; Tỷ lệ ấp nở 78,5 – 80,4 %; Tỷ lệ gà loại I/tổng gà nở 95 – 97,3 %. Gà nuôi thịt đến 12 tuần: Tỷ lệ nuôi sống là 95,7 %. Khối lượng con trống 1140,70 g; con mái 940,50 g. Tỷ lệ thân thịt chung cho trống mái là 77,75 %. Còn tỷ lệ thịt đùi + thịt ngực đạt 37 % (Bùi Đức Lũng và cs, 2005).

Năm 2012, nhóm tác giả Nguyễn Huy Đạt và cs đã nghiên cứu, chọn tạo thành công giống gà Ri vàng rơm. Gà này có năng suất, chất lượng trứng và sản phẩm thịt có giá trị thương phẩm cao hơn các giống gà khác từ 30 – 40 %. Đây là giống gà nội, có khả năng thích nghi cao với điều kiện chăn nuôi khó khăn. Gà Ri vàng rơm thích nghi được tất cả các vùng sinh thái ở nước ta, đặc biệt là những vùng trung du, miền núi có điều kiện khó khăn. Tùy từng điều kiện của người chăn nuôi và từng địa phương để lựa chọn quy mô chăn nuôi phù hợp (Nongnghiep.vn, 2012).

Nguyễn Minh Hoàn và cs (2014) đã nghiên cứu từ quần thể gà địa phương gồm 400 cá thể, đã chọn lọc theo các tiêu chuẩn về màu sắc lông, hình thái cơ thể của gà, đã cho kết quả như sau: Xác định được tiêu chuẩn chọn lọc về khối lượng cơ thể ở 17 tuần tuổi ở thế hệ I, đối với gà mái là: 953,5 g và đối với gà trống là: 1401,7 g. Kết quả chọn lọc theo tiêu chuẩn khối lượng cơ thể lúc 17 tuần tuổi đã cho thấy khối lượng cơ thể gà ở thế hệ II cao hơn so với thế hệ I ở hầu hết các tuần tuổi. Mức độ đồng đều về khối lượng gà Ri vàng rơm thế hệ II cao hơn thế hệ I. Chọn lọc đã làm tăng khối lượng gà trống và gà mái ở thế hệ II so với thế hệ I, tuy nhiên khác biệt về khối lượng ở gà mái rõ rệt hơn so với gà trống giữa 2 thế hệ.

Theo Thư Viện Bộ NN và PTNT (2015), tác giả Ngô Thị Kim Cúc và cs đã nghiên cứu về gà Ri hoa mơ, khả năng sản xuất như sau:

Khối lượng của gà Ri hoa mơ đã tăng dần qua các thế hệ. Lúc 8 tuần tuổi gà trống có khối lượng là 668,04g ở thế hệ xuất phát và 690,44g ở thế hệ 2, gà mái có khối lượng 627,15g ở thế hệ xuất phát và 663,35 ở thế hệ 2. Đến 20 tuần tuổi gà trống có khối lượng ở thế hệ xuất phát là 1676,30g và ở thế hệ 2 là 1705,00g, gà mái có khối lượng ở thế hệ xuất phát là 1409,30g và ở thế hệ 2 là 1444,60g.

Tuổi đẻ quả trứng đầu là từ 139 đến 142 ngày. Tỷ lệ đẻ đạt 5% vào 21-22 tuần tuổi và đẻ đỉnh cao vào lúc 27 – 28 tuần. Năng suất trứng của gà Ri hoa mơ tăng dần qua các thế hệ. Năng suất trứng của đàn gà Ri hoa mơ đến 68 tuần tuổi là từ 126,21 quả ở thế hệ xuất phát và 129,28 quả ở thế hệ 2.

Kết quả nghiên cứu này cho thấy đàn gà Ri hoa mơ đủ điều kiện về chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật để làm công tác giống ở các giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng gà Ri đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất.

Gà Ri có màu lông đa dạng, chân và da vàng, chân thấp, mào cờ. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã tiến hành chọn lọc theo hướng đặc điểm ngoại hình ổn định, đã hình thành và phát triển gà Ri vàng rơm và gà Ri hoa mơ.

Nhìn chung, gà Ri có tỷ lệ nuôi sống biến động, từ 86,6 – 95,7 %; khối lượng cơ thể gà thấp, lúc trưởng thành chỉ khoảng từ khoảng 0,95 – 2,30 kg, bình quân gà mái khoảng 1,2 – 1,4 kg, gà trống khoảng khoảng 1,9 – 2,0 kg; tuổi đẻ quả trứng đầu tiên sớm, khoảng 135 – 142 ngày, trong khi đó gà Mía là 180 – 200 ngày, gà Đông Tảo là 170 – 210 ngày, gà 200 – 210 ngày; sản lượng trứng khoảng 70 – 130 quả/năm, cao hơn một số giống gà nội như gà Mía là 60 – 65 quả/năm, gà Đông Tảo là 50 – 68 quả/năm, gà Hồ là 50 – 60 quả/năm; khối lượng trứng nhỏ, khoảng 30 – 48,6 g/quả; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 2,61 kg; tỷ lệ ấp nở thấp, khoảng 78 – 85 %; tiêu tốn thức ăn nuôi đến 19 tuần tuổi là 6,28 kg/con, ước tính khoảng 4,2 kg thức ăn/tăng khối lượng.

URE, LIVESTOand FISS

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thanh Sơn, Bùi Đức Lũng, Đoàn Xuân Trúc (1999), Chăn nuôi gia cầm (Giáo trình dùng cho Cao học và NCS ngành chăn nuôi), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng, Nguyễn Đức Hưng (2014), “Kết quả chọn lọc theo ngoại hình và sinh trưởng của gà Ri qua 2 thế hệ”, Tạp chí Khoa học Đại học Huế, Số 4, tr. 94 – 99.

Bùi Đức Lũng, Nguyễn Huy Đạt, Vũ thị Hưng, Trần Long (2005), Kết quả nghiên cứu chọn lọc và nhân thuần gà Ri màu vàng rơm sau 3 thế hệ, Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi.

Lê Hồng Mận, Nguyễn Thanh Sơn (2001), Kỹ thuật nuôi gà Ri và gà Ri pha, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

Nongnghiep.vn (2012), (Http://nongnghiep.vn/ga-ri-vang-rom-post102969.html; cập nhật 09/11/2012).

Thư viện Bộ Nông nghiệp và PTNT (2015) (http://thuvien.mard.gov.vn/san-pham/thong-bao-de-tai-moi/nghien- cuu-chon-tao-dong-ga-ri-1207/, ngày 26/10/2015)

Trần Thanh Vân, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ (2015), Giáo Trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp.

Đặc Điểm Giống Gà Ác

Gà ác là một giống gà nội ở nước ta, phổ biến ở các tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long và Miền Đông Nam Bộ, được dùng để bồi dưỡng sức khoẻ như một vị thuốc . Tuy nhiên gà ác còn ít được nuôi và sử dụng ở miền Bắc.

Trước kia đã có một số tài liệu đề cập đến gà ác, nhưng vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào giới thiệu đầy đủ về giống gà này. Để góp phần bảo tồn và phát triển giống gà  này chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khả năng sản xuất của giống gà ác Việt Nam” nhằm đạt được những yêu cầu sau:

– Xác định một số đặc điểm về giống: ngoại hình, khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt, khả năng sinh sản và sản xuất trứng của gà ác.

– Khảo sát khả năng thích ứng của gà ác và phương thức sử dụng gà ác để bồi dưỡng sức khoẻ cho con người tại Miền Bắc – Việt Nam.

2.     Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1     Khảo sát đàn gà ác nuôi ở Việt Nam

2.1.1     Địa điểm và thời gian khảo sát

– Tại ấp Dinh và ấp Quyết Thắng tỉnh Long An và thành phố Hồ Chí Minh.

– Thời gian: Năm 1996 và 1998

2.1.2     Đối tượng gà khảo sát

– Long An: 2430 gà sinh sản và 9480 gà con.

– Thành phố Hồ Chí Minh: 67 gà sinh sản và 197 quả trứng.

Tất cả đều là gà của các gia đình, nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp.

2.1.3     Nội dung khảo sát:

– Ngoại hình, sức sống, khả năng sinh trưởng và khả năng sinh sản

– Kỹ thuật chăn nuôi

– Phương pháp sử dụng sản phẩm.

2.2     Nghiên cứu trên đàn gà ác nuôi tại miền Bắc

2.2.1     Địa điểm và thời gian nghiên cứu

– Tại Thuỵ Phương -  Viện Chăn nuôi và các gia đình nuôi gà ác xung quanh Hà Nội; từ tháng 4/1994 đến tháng 12/1998.

2.2.2     Đối tượng gà nghiên cứu

– Nguồn gốc:

Gà ác và trứng gà ác được chọn lọc từ các gia đình tại tỉnh Long An đưa về miền Bắc để nghiên cứu (197 gà sinh sản, 222 gà con và 36.000 gà thịt).

– Chế độ nuôi dưỡng:

+ Viện Chăn Nuôi: theo phương thức chăn nuôi gà công nghiệp.

+ Các gia đình: Nuôi theo phương thức bán công nghiệp.

2.2.3     Nội dung nghiên cứu:

2.2.3.1     Đặc điểm về giống

Đặc điểm về ngoại hình; sức sống và khả năng chống chịu; khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt; khả năng sinh sản và sản xuất trứng.

2.2.3.2     Chế biến và sử dụng sản phẩm

Gà ác được hầm với thuốc Bắc và gà ác đóng viên dạng khô. Đồng thời tiến hành xây dựng mạng lưới sản xuất và tiêu thụ gà ác ở miền Bắc.

3.1     Đàn gà nuôi ở Việt Nam

3.1.1     Ngoại hình

Gà ác có tầm vóc nhỏ, lông xước màu trắng tuyền; da, thịt, xương, mỏ và chân đều đen. Gà trống có mào cờ đỏ thẫm, gà mái mào cờ nhưng nhỏ và đỏ nhạt, tích màu xanh. Chân có lông và 5 ngón (ngũ trảo), nhưng cũng có một số con không có lông chân hoặc chân chỉ có 4 ngón.

3.1.2     Sức sống

Gà ác có sức sống rất cao. Tỷ lệ nuôi sống từ 1 ngày tuổi đến 56 ngày tuổi trung bình đạt 95-98%, cá biệt có đàn đạt 100%.

3.1.3     Khả năng sinh trưởng

Gà ác là gióng gà nội có khối lượng nhỏ nhất trong các giống gà nội Việt Nam, mới nở 16,3-16,5g, 60 ngày tuổi: 229g, 120 ngày tuổi: 639-757g.

3.1.4     Khả năng sinh sản

Gà ác thành thục sinh dục sớm: 110 – 120 ngày. Sản lượng trứng thấp: 70-80 quả/năm. Khối lượng trứng nhỏ: 30,2g. Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng ca 3,4kg. Tỷ lệ trứng thụ tinh ca 90%. Tỷ lệ ấp nở nhân tạo thấp: 63,5%.

3.1.5     Kỹ thuật chăn nuôi

Gà ác có thể thích ứng với các phương thức nuôi dưỡng khác nhau:

+ Nuôi quảng canh: gà ác có khả năng kiếm mồi tốt.

+ Nuôi thâm canh: gà ác cũng phát triển tốt.

3.1.6     Phương pháp chế biến và sử dụng sản phẩm

Gà ác thường được dùng để bồi dưỡng sức khoẻ: Gà ác được hầm với thuốc Bắc dùng cho người ốm, trẻ em suy nhược cơ thể, người cao tuổi, sản phụ sau khi sinh (đã thu thập được 10 bài thuốc Bắc để hầm với gà ác).

3.2     Đàn gà nuôi ở miền Bắc

3.2.1     Ngoại hình và kích thước các chiều đo

Ngoại hình gà ác nuôi tại miền bắc tương tự ngoại hình của gà ác khảo sát ở miền nam. Kích thước của gà ác 38 tuồn tuổi, con trống và con mái lần lượt như sau: Dài thân: 16,25cm và 12,90cm; Vòng ngực: 22,12cm và 19,68cm; Dài lườn: 10,13cm và 8,20cm; Dài đùi: 10,50cm và 9,10cm; Dài bàn chân: 7,17cm và 5,92cm; Vòng ống chân: 4,45cm và 3,68cm.

3.2.2     Sức sống và khả năng chống chịu

Gà ác có tỷ lệ nuôi sống cho đến 8 tuần tuổi là 88,28%. Tuần thứ 8 đến tuần thứ 16 tỷ lệ nuôi sống đạt 100%. Gà ác chịu nóng tốt nhưng chịu rét rất kém, đặc biệt là gà con.

3.2.3     Khả năng sinh trưởng và cho thịt

3.2.3.1     Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi

+ Khối lượng tích luỹ của con trống và con mái lần lượt như sau: Mới nở: 16,32g và 17,42g; 7 tuần tuổi: 250,88g và 222,97g; 8 tuần tuổi: 295,71g và 260,21g và 16 tuần tuổi: 724,62g và 565,05g.

+ Tăng khối lượng tuyệt đối:

Khối lượng tuyệt đối tăng dần từ tuần 1 đến tuần 7. Tăng khối lượng cao nhất ở tuần tuổi thứ 9. Sau đó mức độ tăng khối lượng tuyệt đối giảm dần.

ở tuần 1 và tuần 2: tăng khối lượng tuyệt đối của con trống và con mái là ngang nhau. Từ tuần 3 đến tuần 16: tăng khối lượng tuyệt đối của con trống cao hơn con mái.

+ Tăng khối lượng tương đối:

Mức độ tăng khối lượng tương đối của gà ác là cao ở tuần 1, 2, 3: sau đó giảm dần và thấp nhất ở tuần 15.

3.2.3.2     Thức ăn tiêu tốn

Lượng thức ăn ăn được của một con gà ác trong một ngày: 1 tuần tuổi: 4,29g; 7 tuần tuổi: 30,38g; 8 tuần tuổi: 36,24g và 16 tuần tuổi: 85,71g.

Thức ăn tiêu tốn cho 1 kg tăng khối lượng: 1 tuần tuổi: 1,24kg; 7 tuần tuổi: 3,48kg; 8 tuần tuổi: 3,84kg và 16 tuần tuổi: 6,63kg.

3.2.3.3     Khả năng cho thịt và chất lượng thịt gà ác

3.2.4     Khả năng sinh sản và sản xuất trứng của gà ác

3.2.4.1     Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: 113 – 121 ngày.

3.2.4.2     Tỷ lệ đẻ và sản lượng trứng

3.2.4.2.1     Tỷ lệ đẻ

Tháng đẻ thứ nhất: 24,25 – 24,93%. Đẻ đỉnh cao ở tháng đẻ thứ hai: 38,9 – 39,80%. Đến tháng đẻ thứ 20 còn: 9,01 – 9,17%.

3.2.4.2.2     Sản lượng trứng

Trong 1 năm đẻ đầu: 91,29 – 95,30 quả. Từ 23 đến 38 tuần tuổi: 40,33 – 43,01 quả.

3.2.4.3     Khối lượng trứng: 21,23 – 29,93g.

3.2.4.4     Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng

Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng của gà ác 2,56kg (1,4 – 3,36 kg). Trong một năm đẻ đầu:

2,53kg. Giai đoạn 23 – 38 tuần tuổi: 2,06kg.

3.2.4.5     Chất lượng trứng

Trứng gà ác có màu trắng, chất lượng trứng ở 38 tuần tuổi, trứng gà ác có tỷ lệ lòng đỏ cao và tỷ lệ lòng trắng thấp còn các chỉ tiêu khác về trứng cũng tương tự như các trứng gà nội.

Hệ số biến dị về chất lượng trứng là trung bình.

3.2.4.6   Tỷ lệ trứng có phôi và ấp nở

Tỷ lệ trứng có phôi và ấp nở của gà ác được trình bày ở  bảng 3

Tỷ lệ có phôi và ấp nở của trứng gà ác (n=81 đợt)

Qua bảng 3 nhận thấy tỷ lệ có phôi của trứng gà ác cao (94,59%) nhưng tỷ lệ nở còn thấp (66,65%), tỷ lệ gà loại I cao (87,04%).

3.2.6     Xây dựng mạng lưới chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm gà ác

Đã xây dựng được 5 cơ sở nuôi gà ác tập trung có quy mô từ 50 con sinh sản trở lên ngoài ra còn có một số gia đình nuôi gà ác với số lượng ít hơn.

Đồng thời cũng đã xây dựng được mạng lưới tiêu thụ thịt gà ác bao gồm các siêu thị: Cửa Nam, Giảng Võ I, Giảng Võ II, Intimex Hanoi, Hanoi Start Mart… và một số nơi lẻ tẻ khác. Trong các năm 1996-1998 đã tiêu thụ 12.000 con/năm.

4.     Kết luận và đề nghị

Kết luận

1. Các đặc điểm về giống

– Ngoại hình và khả năng chống chịu

Gà ác có tầm vóc nhỏ, lông xước màu trắng tuyền; nhưng da thịt, xương, mỏ và chân đ đều màu đen. Gà trống có mào cờ đỏ thẫm, gà mái có mào cờ nhưng nhỏ và đỏ nhạt. Tích màu xanh, phần lớn chân có lông và 5 ngón (ngũ tráo) có một số con không có lông và 4 ngón; gà ác có thể nuôi quảng canh hoặc thâm canh, sức chống chịu cao, chịu nóng tốt nhưng chịu rét kém. Tỷ lệ nuôi sống ca đến 8 tuần tuổi 88,28%.

– Khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt

+ Gà ác có tầm vóc nhỏ. Mức độ tăng khối lượng tuyệt đối cao nhất ở tuần tuổi thứ 9. Mức độ tăng khối lượng tương đối cao nhất ở tuần tuổi đầu tiên, sau đó giảm dần.

+ Lượng thức ăn ăn được của gà ác trong một ngày thấp. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối

lượng cao và tăng dần từ tuần 1 đến tuần 16.

+ Năng suất thịt ở 7 tuần tuổi thấp, tỷ lệ thân thịt không cao. Tỷ lệ thịt lườn và thịt đùi ở mức trung bình.

+ Lúc 7 tuần tuổi tỷ lệ protein, mỡ, khoáng trong thân thịt gà ác là tương tự như các giống gà nội khác, nhưng lượng axit min trong thịt gà ác cao hơn gà Ri. Đặc biệt hàm lượng sắt trong thịt gà ác cao gấp 2 lần trong thịt gà Ri (7,9% so với 3,9%).

– Khả năng sinh sản và sản xuất trứng

+ tuổi đẻ quả tnứng đầu tiên sớm.

+ Tỷ lệ đẻ thấp. Tỷ lệ đẻ cao nhất ở tháng thứ 2. Sản lượng trứng thấp.

+ Khối lượng trứng nhỏ.

+ Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng cao.

+ Tỷ lệ lòng đỏ cao. Tỷ lệ lòng trắng thấp. Các chỉ tiêu khác về trứng nằm trong phạm vi của trứng gà nội.

+ Tỷ lệ trứng có phôi cao. Nhưng tỷ lệ ấp nở bằng phương pháp nhân tạo còn thấp. Tỷ lệ gà loại I/tổng gà nở cao.

2. Khả năng thích ứng và phương pháp sử dụng gà ác ở miền Bắc

– Khả năng thích ứng

Đặc điểm giống nói chung cũng như năng suất nói riêng của gà ác nuôi ở miền Nam và

miền Bắc là tương tự nhau. Do dó có thể thấy gà ác có nguồn gốc ở miền Nam cũng có khả năng thích ứng tốt ở miền Bắc.

– Phương thức sử dụng

Để bồi dưỡng cơ thể có thể:

+ Hầm cách thủy gà ác với 9 vị thuốc Bắc của Phòng Bào chế Viện Dược liệu Y học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Sử dụng gà ác đóng viên dạng khô của Trạm nghiên cứu chế biến sản phẩm chăn nuôi.

Đề nghị

Cho mở rộng việc nuôi gà ác ở miền Bắc Việt Nam:

+ Xây dựng một cơ sở chọn lọc nhân giống gà ác tại Viện Chăn nuôi (trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương).

– Tiếp tục xây dựng một mạng lưới nuôi gà ác ở trong dân.

– Tiếp tục xây dựng một mạng lưới tiêu thụ gà ác qua các siêu thị và các nơi khác.

Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Văn Hải, Trần Thị Mai Phương, Vũ Thị Khánh Vân, Ngô Thị Kim Cúc- Viện chăn nuôi

Đặc Điểm Của Giống Gà Đá F1

Tôi ko rõ phương pháp cản gà chọi outbred của 1 số sư kê Peru như anh nói, mà như trong bài viết về giòng chọi gà Kelso họ với nhắc sơ về phương pháp cản out and out của ông Kelso; in or out chỉ là danh trong khoảng chỉ phuơng pháp nào ấy thôi, nguyên lý vẫn vậy. Để tạo giòng gà cận hay trùng huyết, để tạo các con gà hay phối giống. những lý lẽ sau này đều dựa theo nhì nguyên lý đó cho dù in hay out. nếu như chưa in thì phải in cho sở hữu gà rặt rồi mới out, in rồi nếu không out thì nằm 1 chỗ ko tiến.Breedout của ông Kelso tuy khác mang các sư kê khác là không cố giữ giòng chọi gà mình với cho rặt rồi pha chút máu mới để giữ chiến kê khỏe mạnh, cơ bản vẫn là pha ra mang các con gà rặt hay sắp rặt, tuy phuơng pháp pha ra của ông gần giống như các sư kê VN, nhưng mà kết quả lại nắm vững và dễ kiểm soát hơn bởi ông dùng những con chọi gà rặt hay gần rặt để pha ra (outbred) lỏng lẻo. từ xưa VN vẫn pha cận hay trùng huyết gà thịt, kể ngay là ko chú trọng lắm trong sự pha giống gà chọi giết thịt, chọn con béo nhất trong bay nuôi cho cản trùng hay ko không lưu ý, khi đến chiến kê đá thì cũng vậy, chọn con hay nhất mà tránh trùng huyết do sợ ra chiến kê chạy, hoặc nếu như mang cũng không với tính cách thức khoa học, tính toán châm máu thế hệ mà chỉ cản để ra chọi gà giống hay chỉ bởi bất đặc dĩ hay đột nhiên nên không sở hữu đuờng huớng dài lâu. In hay Out quan trọng là nắm vững qui định, chọn gà chọi khéo léo để cho ra các con gà chọi căn bản vẫn là gà chọi pha dựa theo những con gà chọi rặt.

hồ hết các sư kê đều tậu phương pháp giữ mẫu chọi gà mình cho rặt. Kelso thì không vậy, ông viết:” Ngay sau khi cầm loại gà chọi của ông Madigine, tôi mở đầu châm máu thế hệ vào gà chọi mái của ông Madigine”. Ông Kelso tậu những con ga` giống của những sư kê chuyên gia tạo loại ngay sau khi ông thấy nó đá, ông chú trọng đến con gà chọi đá ra sao hơn là dòng ấy tên gì. Ông sẽ dùng con chiến kê tậu ấy cản với 1 con chiến kê mái cộng bầy mang con gà trống nào đá hay nhất của ông ta. giả dụ thắng lợi ông ta dùng con trống đấy cản tiếp với những con mái khác cùng bè cánh.**Ông này chắc mang máu sư kê Việt** ..

Đại nhiều phần chuồng chiến kê ông này cản ra gà chọi ko mang giá trị gì và gà chọi trống bị đem sa thải. Vứt bao nhiêu thì vứt, đó là phuơng pháp cản chọi gà Out and Out của Kelso, và nó cũng là nền móng của các con gà chọi Kelso out and out chiến thắng ngòai trường cho đến ngày bữa nay. Gọi là Out and Out vì gà Kelso đuợc bấm lỗ ở màng ngón nọai con gà chọi. chiến kê Kelso thuờng là ô ớt hay điều mật, chân vàng hoặc trắng. Mòng dâu bé dại hoặc mòng lácái hay của lối breed out của ông Kelso là lúc nào gà chọi ông cũng sở hữu lối đá cập nhật nhất. dòng dở là tuy dùng gà tương đối rặt hay rặt nhưng mà phải bỏ phổ thông chiến kê vì lúc nhì con gà rặt hay sắp rặt pha với nhau ra con bất thường nếu như những con đó ko liên hệ xa, cho nên phải chọn chọi gà pha sở hữu nhau rất chú ý, hoặc cản phần lớn, thêm nữa nếu như ko mang chiến kê nhà hay thì phải đi mua chọi gà giống hay (tốn tiền); tuy thế ông Kelso rất giàu nên tìm chiến kê giống với ông cũng như nuôi rộng rãi ko khó lắm (trừ tìm gà của Boles); ông Kelso đã từng ký chi phiếu trống cho ông Boles để tậu mấy con gà và đòi hỏi ông Boles chỉ cách thức gây giống cũng như chọn chiến kê để gây giống nhưng ông Boles khước từ.bởi vậy tôi vẫn nghĩ điểm quan trọng vẫn là tạo giòng chọi gà rặt với đặc tính riêng rồi sau đó breed in or out ra sao tùy hoàn cảnh và giòng gà để thích ứng. một nguời thì số gà, chỗ, tiền nong, số chiến kê hay khác biệt để khiến rặt bị dừng, nhiều người cản gà dựa trên và thấu hiểu nguyên tắc thì mức độ thành công sẽ mau và phổ thông gấp bội.

Anh Mega2Thông thuờng người ta hay kể tới thoái hóa cận huyết hay trùng huyết thì thì đúng hơn, trong bài trên người ta đề cập đến thoái hoá ngoại huyết hay đúng hơn là thoái hóa phân mẫu. Thoái hóa phân giòng là sự thoái hóa của cái gà chọi lúc cản sở hữu những giống thế hệ 1 hay đa dạng lần.Trong bài họ bàn tới những con gà mở đầu là những con chọi gà tạo bởi vì trùng huyết để thành giống chọi gà và tình cờ gạn lọc và nhiều lúc mang giòng mới châm vào để giữ cho giống nòi khỏe mạnh và phù hợp nhưng mà đại đa số thú thiên nhiên đều rặt và trùng huyết. khi với nhì giòng chọi gà khác nhau hợp lại ngoài các đặc tính cộng tầm thường sẽ sở hữu những đặc tính thế hệ và đôi khi chính thành ra khi không cần gạn lọc lại.Họ nhắc về thoái hóa thể hình một giống gà chọi lớn cản mang một giống chiến kê nhỏ dại sẽ ra con nhàng nhàng, nhiều ít, đôi lúc ra gà phệ hơn giống bự, nhiều khi ra chọi gà nhỏ tuổi hơn giống bé dại mà về lâu dài ví như cứ phối giống như vậy gà chọi từ từ sẽ trung bình phần lợi về giống gà bé dại, giống gà chọi to thoái hóa hay giòng gà chọi béo thành gà nhàng nhàng hay nhắc cách khác bị nhỏ dại đi, trừ phi nó cản với giòng khác to hơn. Về thoái hóa phẩm chất, khi nhì giòng chiến kê pha sở hữu nhau, tỉ dụ hai giòng đá mu lưng (họ ví dụ gà chọi bay cao dàn nạp và giòng đá lông bởi vì họ chơi gà dao), pha sở hữu nhau sẽ mang 1 số con đá mu lưng giống phụ vương, một số giống mẹ, sở hữu tức thị số con đá mu lưng hay hơn sẽ giảm đi so sở hữu giòng rặt của nó (ví dụ mẫu cha) và số con đá mu lưng dở hơn cũng giảm đi so mang giòng gà chọi mẹ (dĩ nhiên có thể mang một đôi con dở tệ, và một vài con đá mu lưng vuợt bực.), cho dù mình lấy con đá mu lưng vuợt bực ấy (nếu là trống dễ biết, mái thì khó) cản với 1 giống đá mu lưng khác nữa, ra con ít với hi vọng mang con giống cha mà đa phần đá mu lưng trong khoảng giữa giòng chiến kê vừa pha và giòng chiến kê mới. Trong trường hợp pha giòng đá mu lưng và giòng đá hầu đôi lúc tiêu diệt hết, ra con đá hầu ko bằng phụ vương, đá mu lưng ko bằng mẹ hay ôm ấp đấm nhưng xương lông dài nhanh giống bố nhưng mà con đá sỏ thì xương to chậm giống mẹ. Cả hai trường hợp thoái hóa ngoại huyết trên sở hữu thể không thấy ngay, có thể lần pha đầu ra đa dạng con đá mu lưng hay hay vuợt bực, hoặc đá sỏ đá mu lưng đều hay (rất hiếm), nhưng mà sau đó giả dụ cầm con chiến kê hay ấy pha tiếp thì nó sẽ thoái hóa. nhắc cách thức khác đi đêm có ngày chạm chán ma và mất luôn giòng thuở đầu. hai truờng hợp trên mình thuờng cho là nhị con không hợp và phần nhiều là người nào cản chọi gà pha đều trải qua nhì truờng hợp trên, vài mới chiến kê tụt hoặc cản hai gà chọi ra con đá ko đủ khả năng thắng cả mấy bè đảng.Ông Ray Boles (em của danh sư Bobby Boles), cho biết đó là tại sao cản cận huyết hay trùng huyết rất quan trọng, với vậy thế hệ giữ chiếc chiến kê mình rặt, sở hữu vậy mới lọc ra đuợc các gene xấu trong dòng gà bằng bí quyết làm thịt hết những con dị tật, yếu ớt ( lý lẽ culling) và tạo môi trường thích hợp không giống nhau cho giòng gà mình thích ứng. đương nhiên vẫn phải thỉnh thoảng châm máu mới, đây là khi giòng chọi gà của chúng tôi loãng ra, tôi chỉ pha 1 lần nếu như con ko mang hi vọng gì với đặc tính của chiếc pha thì tôi ngưng ngay, kiếm giòng khác, nhất chín nhị bù ko pha loãng ra mãi.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đặc Điểm Ngoại Hình Của Giống Gà Ác trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!