Xu Hướng 2/2023 # Đặc Điểm Giống Gà Nòi (Hay Còn Gọi Gà Chọi) # Top 7 View | Raffles-design.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đặc Điểm Giống Gà Nòi (Hay Còn Gọi Gà Chọi) # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Đặc Điểm Giống Gà Nòi (Hay Còn Gọi Gà Chọi) được cập nhật mới nhất trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Gà chọi nòi còn được gọi là gà đòn. Đây là cách gà dùng quản và chân để đánh đòn. Gà nòi phổ biến nhất ở 2 miền là Bắc và Trung., còn ở miền Nam chủ yếu là gà cựa.

Gà chọi nòi được ví như là loại gà không cựa. Bởi cựa gà đòn thì có gốc to mọc khá lâu và không dài. Cựa mới mọc chỉ nhú lên to như hạt bắp. Do chủ yếu dùng quản và bàn chân để tấn công đối thủ nên cựa gà đòn thường bị cưa bớt hoặc mài nhẵn đi.

Đầu của gà nòi thường lớn hơn so với gà bình thường, đỉnh đầu của gà cũng lớn bản và bằng. Mặt gà rộng có xuất hiện xương gò má nhô cao. Do gà chọi nòi được chăm sóc đặc biệt và gần với người hơn nên diện mạo trên khuôn mặt của gà chọi nòi luôn thấy được sự tự tin. Nếu gặp người lạ gà sẽ nghiêng mặt, trố mắt để theo dõi. Nếu gặp những con gà khác sẽ lộ rõ vẻ sát khí thông qua đôi mắt.

Chân gà chọi nòi thường khô được bao bọc bởi hai hàng vảy lớn. Có thể thuộc vào giống chân vuông hoặc không. Và có một đường chỉ đất chạy dọc xuống chân. Ngoài ra, một số gà đòn khác có thể có ba hay bốn hàng vảy và được xếp vào hàng gà hiếm.

Quản gà là gì? Chính là phần cần cổ gà nơi nối liền giữa đầu và mình. Do chủ yếu dùng quản để tấn công nên cổ gà nòi thường lớn và trông rất mạnh bạo. Xương cổ gà rất cứng, các khớp xương cổ liền mạch xếp đều đặn. Chiều dài của cổ tương xứng với chiều dài của cơ thể.

Da gà chọi nòi được các sư kê om bóp bằng rượu nghệ thường xuyên nên rất dày và có màu đỏ rực. Lớp da ở cổ được xếp lớp theo hình sóng gợn. Và nòi cũng phải được cắt tỉa lông thường xuyên để thuận tiện cho quá trình om bóp. Vừa tạo lực mạnh hơn khi đánh đòn bằng quản.

Ngoài các đặc điểm chung như ở trên thì gà nòi Việt Nam cũng có đôi chút khác biệt so với các giống gà đòn trên thế giới. Ví dụ như:

Đùi: Nở nang và dài hơn phần quản

Chân: tương đối cao. Loại chân vuông hoặc tam giác được ưa chuộng nhất

Đuôi: ngắn, lông cứng có hình cánh quạt để hỗ trợ trong việc bay nhảy để ra đòn.

Bộ lông: thưa ở phần đầu, cổ, đùi. Có nhiều màu khác nhau như: ô, điều, nhạn…

Tiếng gáy: gà chọi nòi Việt Nam không gáy nhiều như gà Thái, gà Tàu nhưng tiếng gáy rất trầm hùng và vang.

Gà chọi nòi Việt Nam nổi tiếng nhất vẫn xuất hiện nhiều ở miền Trung như Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên và một số tỉnh của miền Bắc như Bắc Giang, Hà Nội…Và các dòng gà chọi nổi tiếng thường là dòng gà Xám, gà Ô là giống gà nòi hay, gà nòi đẹp. Và đã có những chiến kê thuộc vào dòng gà này trở thành những huyền thoại trong làng gà đòn Việt Nam.

Ngoài ra, đối với các giống gà chọi trên thế giới thì có các loại gà đá nổi tiếng như gà Peru, gà Asil, gà Shamo…Đều là những giống gà đá mới du nhập vào Việt Nam nhưng cũng rất được ưa chuộng.

Với ngoại hình đặc trưng thì gà chọi nòi rất dễ nhận biết, gần như khác hoàn toàn so với các dòng gà cựa. Nghệ thuật đá gà đòn cho đến hiện nay vẫn được nhiều người ưa chuộng. Được coi là một nét đẹp truyền thống của người dân Việt Nam. Lưu ý, nhận biết được gà chọi nòi thì cần phải biết được cách chăm sóc kết hợp với luyện tập. Thì chiến kê mới có một phong độ tốt nhất trước khi ra trận.

Đặc Điểm Gà Nòi Bình Định

Một số đặc điểm nổi bật và đáng chú ý :

Nhìn chung thì gà chọi Bình Định có bộ lông không dày , lông ít, mà cộng lông thì to và rất cứng , cứng hơn các lông của gà chọi bình thường, rất dễ gãy .

có thể thấy các nơi như đầu , cổ, ngực và đùi thì hầu như rất ít lông , và tập trung phát triển lông ở nơi cánh là khá nhiều, mộc rất rậm ở hai cánh .

còn phần mặt của gà nhỏ gọn, rất lanh lẹ, phần tích hầu như không có, còn phần tai thì không phát triển lắm

về phần mồng thì không cao , nhìn rất thấp, có 3 loại đáng chú ý là mồng lá dâu và mồng cục

phần mỏ gà kha to , ngắn , nhìn rất nhọn, và có sức mổ rất khỏe.

còn phần mắt thì thụt sâu ở trong, mắt tròn nhỏ, mí mắt rất là dày, và chúng có các màu mắt đa dạng và nhiều loại màu.

gà trống thường được 6 tháng tuổi thì biết gáy, cho đến tháng thứ 7 thì sẽ gáy thanh hơn rõ hơn, vào thời gian này có thể đạp mái và giao hợp gây giống được.

tương tự thì gà mái khoảng 6 tháng thì kiếm ổ, làm ổ, rồi đến 7 tháng là phát dục chịu cho con trống giao phối, rồi chuẩn bị quá trình sinh sản lứa đầu tiên

được biết thì gà chọi xứ Bình Định thay bộ lông theo mùa, nên bắt đầu thời gian thay lông từ tháng 5 âm lịch rồi tiếp tục và diễn ra quá trình kéo dài cho đến hết tháng 11 âm lịch là xong

gà được 4-5 tháng tuổi đã bắt đầu quá trình thay lông đầu tiên , rồi đến khi đạt khoảng 16-17 tháng sẽ tiếp tục quá trình thay lông một lần nữa

Nhìn chung trong mùa thay lông thì hầu như trên người gà không còn lông, ngay cả lông cánh cũng chỉ còn lưa thưa, rất ít lông cũ còn bám lại, thời điểm này hầu như các sư kê không cho gà mình tham gia đá , vì trong thời gian này gà yếu, mất sức và khá năng ra đòn hầu như không mạnh lắm. Dưỡng gà cho cuộc thi đấu vào năm sau là hợp lý cho mùa thay lông gà

bắt đầu đẻ lứa đầu tiên khi gà mái được độ tuổi khoảng 192 ngày, và thường thấy tỉ lệ trứng có phôi đạt khoảng 91, 6% là bình thường.

còn số trứng đẻ một lứa dao động từ 8-12 trứng và khi đến lúc ấp ta thấy được tỉ lệ ấp nở khoảng 85 % thành công .

tổng thời gian gà mẹ nuôi và dắt con là 3 tháng, đây bao gồm giai đoạn bắt đầu từ lúc nở cho đến lúc gà có thể tự kiếm ăn và hơi cứng cáp.

trong các lứa đẻ cách nhau khoảng 5 tháng , vì thời gian này gà phải ăn và dưỡng cơ thể, cho đến khi bắt đầu giai đoạn chịu trống trở lại, 5 tháng là khoảng thời gian quá dài và đây là đặc trưng của gà nòi Bình Định.

nhìn chung thì việc nuôi gà chọi sinh sản là để ta gây lại giống gà chọi trống mà mình muốn giữ, và duy trì gà để đá vào lúc các trống khác già, hoặc đá không nổi hoặc bị chết.

ở giống gà nòi thì gà mẹ có khả năng kiếm ăn và mồi cũng như bao gà khác, nhưng chú vụng nuôi con, nuôi con không được tốt bằng gà ta.

Đặc Điểm Giống Gà Ác

Gà ác là một giống gà nội ở nước ta, phổ biến ở các tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long và Miền Đông Nam Bộ, được dùng để bồi dưỡng sức khoẻ như một vị thuốc . Tuy nhiên gà ác còn ít được nuôi và sử dụng ở miền Bắc.

Trước kia đã có một số tài liệu đề cập đến gà ác, nhưng vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào giới thiệu đầy đủ về giống gà này. Để góp phần bảo tồn và phát triển giống gà  này chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khả năng sản xuất của giống gà ác Việt Nam” nhằm đạt được những yêu cầu sau:

– Xác định một số đặc điểm về giống: ngoại hình, khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt, khả năng sinh sản và sản xuất trứng của gà ác.

– Khảo sát khả năng thích ứng của gà ác và phương thức sử dụng gà ác để bồi dưỡng sức khoẻ cho con người tại Miền Bắc – Việt Nam.

2.     Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1     Khảo sát đàn gà ác nuôi ở Việt Nam

2.1.1     Địa điểm và thời gian khảo sát

– Tại ấp Dinh và ấp Quyết Thắng tỉnh Long An và thành phố Hồ Chí Minh.

– Thời gian: Năm 1996 và 1998

2.1.2     Đối tượng gà khảo sát

– Long An: 2430 gà sinh sản và 9480 gà con.

– Thành phố Hồ Chí Minh: 67 gà sinh sản và 197 quả trứng.

Tất cả đều là gà của các gia đình, nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp.

2.1.3     Nội dung khảo sát:

– Ngoại hình, sức sống, khả năng sinh trưởng và khả năng sinh sản

– Kỹ thuật chăn nuôi

– Phương pháp sử dụng sản phẩm.

2.2     Nghiên cứu trên đàn gà ác nuôi tại miền Bắc

2.2.1     Địa điểm và thời gian nghiên cứu

– Tại Thuỵ Phương -  Viện Chăn nuôi và các gia đình nuôi gà ác xung quanh Hà Nội; từ tháng 4/1994 đến tháng 12/1998.

2.2.2     Đối tượng gà nghiên cứu

– Nguồn gốc:

Gà ác và trứng gà ác được chọn lọc từ các gia đình tại tỉnh Long An đưa về miền Bắc để nghiên cứu (197 gà sinh sản, 222 gà con và 36.000 gà thịt).

– Chế độ nuôi dưỡng:

+ Viện Chăn Nuôi: theo phương thức chăn nuôi gà công nghiệp.

+ Các gia đình: Nuôi theo phương thức bán công nghiệp.

2.2.3     Nội dung nghiên cứu:

2.2.3.1     Đặc điểm về giống

Đặc điểm về ngoại hình; sức sống và khả năng chống chịu; khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt; khả năng sinh sản và sản xuất trứng.

2.2.3.2     Chế biến và sử dụng sản phẩm

Gà ác được hầm với thuốc Bắc và gà ác đóng viên dạng khô. Đồng thời tiến hành xây dựng mạng lưới sản xuất và tiêu thụ gà ác ở miền Bắc.

3.1     Đàn gà nuôi ở Việt Nam

3.1.1     Ngoại hình

Gà ác có tầm vóc nhỏ, lông xước màu trắng tuyền; da, thịt, xương, mỏ và chân đều đen. Gà trống có mào cờ đỏ thẫm, gà mái mào cờ nhưng nhỏ và đỏ nhạt, tích màu xanh. Chân có lông và 5 ngón (ngũ trảo), nhưng cũng có một số con không có lông chân hoặc chân chỉ có 4 ngón.

3.1.2     Sức sống

Gà ác có sức sống rất cao. Tỷ lệ nuôi sống từ 1 ngày tuổi đến 56 ngày tuổi trung bình đạt 95-98%, cá biệt có đàn đạt 100%.

3.1.3     Khả năng sinh trưởng

Gà ác là gióng gà nội có khối lượng nhỏ nhất trong các giống gà nội Việt Nam, mới nở 16,3-16,5g, 60 ngày tuổi: 229g, 120 ngày tuổi: 639-757g.

3.1.4     Khả năng sinh sản

Gà ác thành thục sinh dục sớm: 110 – 120 ngày. Sản lượng trứng thấp: 70-80 quả/năm. Khối lượng trứng nhỏ: 30,2g. Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng ca 3,4kg. Tỷ lệ trứng thụ tinh ca 90%. Tỷ lệ ấp nở nhân tạo thấp: 63,5%.

3.1.5     Kỹ thuật chăn nuôi

Gà ác có thể thích ứng với các phương thức nuôi dưỡng khác nhau:

+ Nuôi quảng canh: gà ác có khả năng kiếm mồi tốt.

+ Nuôi thâm canh: gà ác cũng phát triển tốt.

3.1.6     Phương pháp chế biến và sử dụng sản phẩm

Gà ác thường được dùng để bồi dưỡng sức khoẻ: Gà ác được hầm với thuốc Bắc dùng cho người ốm, trẻ em suy nhược cơ thể, người cao tuổi, sản phụ sau khi sinh (đã thu thập được 10 bài thuốc Bắc để hầm với gà ác).

3.2     Đàn gà nuôi ở miền Bắc

3.2.1     Ngoại hình và kích thước các chiều đo

Ngoại hình gà ác nuôi tại miền bắc tương tự ngoại hình của gà ác khảo sát ở miền nam. Kích thước của gà ác 38 tuồn tuổi, con trống và con mái lần lượt như sau: Dài thân: 16,25cm và 12,90cm; Vòng ngực: 22,12cm và 19,68cm; Dài lườn: 10,13cm và 8,20cm; Dài đùi: 10,50cm và 9,10cm; Dài bàn chân: 7,17cm và 5,92cm; Vòng ống chân: 4,45cm và 3,68cm.

3.2.2     Sức sống và khả năng chống chịu

Gà ác có tỷ lệ nuôi sống cho đến 8 tuần tuổi là 88,28%. Tuần thứ 8 đến tuần thứ 16 tỷ lệ nuôi sống đạt 100%. Gà ác chịu nóng tốt nhưng chịu rét rất kém, đặc biệt là gà con.

3.2.3     Khả năng sinh trưởng và cho thịt

3.2.3.1     Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi

+ Khối lượng tích luỹ của con trống và con mái lần lượt như sau: Mới nở: 16,32g và 17,42g; 7 tuần tuổi: 250,88g và 222,97g; 8 tuần tuổi: 295,71g và 260,21g và 16 tuần tuổi: 724,62g và 565,05g.

+ Tăng khối lượng tuyệt đối:

Khối lượng tuyệt đối tăng dần từ tuần 1 đến tuần 7. Tăng khối lượng cao nhất ở tuần tuổi thứ 9. Sau đó mức độ tăng khối lượng tuyệt đối giảm dần.

ở tuần 1 và tuần 2: tăng khối lượng tuyệt đối của con trống và con mái là ngang nhau. Từ tuần 3 đến tuần 16: tăng khối lượng tuyệt đối của con trống cao hơn con mái.

+ Tăng khối lượng tương đối:

Mức độ tăng khối lượng tương đối của gà ác là cao ở tuần 1, 2, 3: sau đó giảm dần và thấp nhất ở tuần 15.

3.2.3.2     Thức ăn tiêu tốn

Lượng thức ăn ăn được của một con gà ác trong một ngày: 1 tuần tuổi: 4,29g; 7 tuần tuổi: 30,38g; 8 tuần tuổi: 36,24g và 16 tuần tuổi: 85,71g.

Thức ăn tiêu tốn cho 1 kg tăng khối lượng: 1 tuần tuổi: 1,24kg; 7 tuần tuổi: 3,48kg; 8 tuần tuổi: 3,84kg và 16 tuần tuổi: 6,63kg.

3.2.3.3     Khả năng cho thịt và chất lượng thịt gà ác

3.2.4     Khả năng sinh sản và sản xuất trứng của gà ác

3.2.4.1     Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: 113 – 121 ngày.

3.2.4.2     Tỷ lệ đẻ và sản lượng trứng

3.2.4.2.1     Tỷ lệ đẻ

Tháng đẻ thứ nhất: 24,25 – 24,93%. Đẻ đỉnh cao ở tháng đẻ thứ hai: 38,9 – 39,80%. Đến tháng đẻ thứ 20 còn: 9,01 – 9,17%.

3.2.4.2.2     Sản lượng trứng

Trong 1 năm đẻ đầu: 91,29 – 95,30 quả. Từ 23 đến 38 tuần tuổi: 40,33 – 43,01 quả.

3.2.4.3     Khối lượng trứng: 21,23 – 29,93g.

3.2.4.4     Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng

Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng của gà ác 2,56kg (1,4 – 3,36 kg). Trong một năm đẻ đầu:

2,53kg. Giai đoạn 23 – 38 tuần tuổi: 2,06kg.

3.2.4.5     Chất lượng trứng

Trứng gà ác có màu trắng, chất lượng trứng ở 38 tuần tuổi, trứng gà ác có tỷ lệ lòng đỏ cao và tỷ lệ lòng trắng thấp còn các chỉ tiêu khác về trứng cũng tương tự như các trứng gà nội.

Hệ số biến dị về chất lượng trứng là trung bình.

3.2.4.6   Tỷ lệ trứng có phôi và ấp nở

Tỷ lệ trứng có phôi và ấp nở của gà ác được trình bày ở  bảng 3

Tỷ lệ có phôi và ấp nở của trứng gà ác (n=81 đợt)

Qua bảng 3 nhận thấy tỷ lệ có phôi của trứng gà ác cao (94,59%) nhưng tỷ lệ nở còn thấp (66,65%), tỷ lệ gà loại I cao (87,04%).

3.2.6     Xây dựng mạng lưới chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm gà ác

Đã xây dựng được 5 cơ sở nuôi gà ác tập trung có quy mô từ 50 con sinh sản trở lên ngoài ra còn có một số gia đình nuôi gà ác với số lượng ít hơn.

Đồng thời cũng đã xây dựng được mạng lưới tiêu thụ thịt gà ác bao gồm các siêu thị: Cửa Nam, Giảng Võ I, Giảng Võ II, Intimex Hanoi, Hanoi Start Mart… và một số nơi lẻ tẻ khác. Trong các năm 1996-1998 đã tiêu thụ 12.000 con/năm.

4.     Kết luận và đề nghị

Kết luận

1. Các đặc điểm về giống

– Ngoại hình và khả năng chống chịu

Gà ác có tầm vóc nhỏ, lông xước màu trắng tuyền; nhưng da thịt, xương, mỏ và chân đ đều màu đen. Gà trống có mào cờ đỏ thẫm, gà mái có mào cờ nhưng nhỏ và đỏ nhạt. Tích màu xanh, phần lớn chân có lông và 5 ngón (ngũ tráo) có một số con không có lông và 4 ngón; gà ác có thể nuôi quảng canh hoặc thâm canh, sức chống chịu cao, chịu nóng tốt nhưng chịu rét kém. Tỷ lệ nuôi sống ca đến 8 tuần tuổi 88,28%.

– Khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt

+ Gà ác có tầm vóc nhỏ. Mức độ tăng khối lượng tuyệt đối cao nhất ở tuần tuổi thứ 9. Mức độ tăng khối lượng tương đối cao nhất ở tuần tuổi đầu tiên, sau đó giảm dần.

+ Lượng thức ăn ăn được của gà ác trong một ngày thấp. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối

lượng cao và tăng dần từ tuần 1 đến tuần 16.

+ Năng suất thịt ở 7 tuần tuổi thấp, tỷ lệ thân thịt không cao. Tỷ lệ thịt lườn và thịt đùi ở mức trung bình.

+ Lúc 7 tuần tuổi tỷ lệ protein, mỡ, khoáng trong thân thịt gà ác là tương tự như các giống gà nội khác, nhưng lượng axit min trong thịt gà ác cao hơn gà Ri. Đặc biệt hàm lượng sắt trong thịt gà ác cao gấp 2 lần trong thịt gà Ri (7,9% so với 3,9%).

– Khả năng sinh sản và sản xuất trứng

+ tuổi đẻ quả tnứng đầu tiên sớm.

+ Tỷ lệ đẻ thấp. Tỷ lệ đẻ cao nhất ở tháng thứ 2. Sản lượng trứng thấp.

+ Khối lượng trứng nhỏ.

+ Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng cao.

+ Tỷ lệ lòng đỏ cao. Tỷ lệ lòng trắng thấp. Các chỉ tiêu khác về trứng nằm trong phạm vi của trứng gà nội.

+ Tỷ lệ trứng có phôi cao. Nhưng tỷ lệ ấp nở bằng phương pháp nhân tạo còn thấp. Tỷ lệ gà loại I/tổng gà nở cao.

2. Khả năng thích ứng và phương pháp sử dụng gà ác ở miền Bắc

– Khả năng thích ứng

Đặc điểm giống nói chung cũng như năng suất nói riêng của gà ác nuôi ở miền Nam và

miền Bắc là tương tự nhau. Do dó có thể thấy gà ác có nguồn gốc ở miền Nam cũng có khả năng thích ứng tốt ở miền Bắc.

– Phương thức sử dụng

Để bồi dưỡng cơ thể có thể:

+ Hầm cách thủy gà ác với 9 vị thuốc Bắc của Phòng Bào chế Viện Dược liệu Y học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Sử dụng gà ác đóng viên dạng khô của Trạm nghiên cứu chế biến sản phẩm chăn nuôi.

Đề nghị

Cho mở rộng việc nuôi gà ác ở miền Bắc Việt Nam:

+ Xây dựng một cơ sở chọn lọc nhân giống gà ác tại Viện Chăn nuôi (trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương).

– Tiếp tục xây dựng một mạng lưới nuôi gà ác ở trong dân.

– Tiếp tục xây dựng một mạng lưới tiêu thụ gà ác qua các siêu thị và các nơi khác.

Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Văn Hải, Trần Thị Mai Phương, Vũ Thị Khánh Vân, Ngô Thị Kim Cúc- Viện chăn nuôi

Đặc Điểm Gà Sao Giống Thuần

Gà Sao lông xám đen, điểm màu trắng nhạt; thân hình thoi, lưng hơi gù, đuôi cúp; đầu không có mào mà thay vào đó là các mấu sừng, các mấu sừng này tăng sinh qua các tuần tuổi, ở giai đoạn trưởng thành mấu sừng cao 1,5 – 2 cm.

Da mặt và cổ gà không có lông, lớp da trần này màu xanh xa trời, dưới cổ có yếm thịt mỏng, chân không có cựa. Ở một ngày tuổi, gà Sao có bộ lông màu cánh sẻ, có những đường kẻ sọc chạy dài từ đầu đến cuối thân, mỏ và chân màu hồng, chân có 4 ngón và có 2 hàng vảy. Giai đoạn trưởng thành, gà Sao có bộ lông màu xám đen, trên phiến lông điểm nhiều nốt chấm trắng tròn nhỏ. Mào tích của gà Sao màu trắng hồng và có 2 loại, một loại hình lá dẹt áp sát vào cổ, một loại hình lá hoa đá rủ xuống.

Gà Sao lúc còn nhỏ nhút nhát, sợ người, sợ bóng tối, sợ tiếng động, khi lớn chúng có thể bay lên cao cách mặt đất 6 – 10 m. Nếu được nuôi theo dạng công nghiệp thì gà mái đẻ nhiều trứng, mỗi con mái có thể đẻ 80 – 100 quả trứng, kéo dài khoảng 6 tháng. Mùa đẻ trứng của gà thường từ tháng 4 đến tháng 10. Gà mái có nhược điểm là yếu kém khả năng nuôi giữ con.

Thịt gà Sao ngon, bổ dưỡng nên được người tiêu dùng ưa chuộng; tiêu thụ mạnh nhất hiện nay tại các quán ăn, nhà hàng.

Triển vọng

Gà Sao xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ 19, do người Pháp đưa vào nuôi ở Đà Lạt và Nam bộ. Ban đầu, chúng được nuôi làm cảnh, do có ngoại hình đẹp. Thời gian gần đây gà Sao được nuôi lấy thịt, trứng. Tháng 4/2002, Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương (Viện Chăn nuôi) nhập 3 dòng gà Sao từ Viện Nghiên cứu tiểu gia súc Godollo (Hungary) về nuôi thử nghiệm. Sau 5 năm nghiên cứu, chọn lọc nâng cao năng suất, đã khẳng định gà Sao có khả năng thích ứng tốt với điều kiện sinh thái Việt Nam và có sức sản xuất khả quan. Năm 2007, Trung tâm đã hoàn thiện quy trình nuôi dưỡng gà Sao (chăm sóc, nuôi dưỡng, ấp trứng nhân tạo và thú y, phòng bệnh); đồng thời xây dựng các mô hình chăn nuôi sinh sản và lấy thịt có hiệu quả kinh tế ở các tỉnh miền Bắc.

Thời gian gần đây, tại một số tỉnh (Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Tiền Giang…) đã có những mô hình chăn nuôi gà Sao cho hiệu quả cao.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đặc Điểm Giống Gà Nòi (Hay Còn Gọi Gà Chọi) trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!