Xu Hướng 1/2023 # Đặc Điểm Chung Và Mô Hình Nuôi Cá Sấu Tiền Tỷ # Top 5 View | Raffles-design.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Đặc Điểm Chung Và Mô Hình Nuôi Cá Sấu Tiền Tỷ # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Đặc Điểm Chung Và Mô Hình Nuôi Cá Sấu Tiền Tỷ được cập nhật mới nhất trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cá sấu là động vật cao cấp nhất trong tất cả các loài bò sát. Khi nhắc đến cá Sấu chúng ta thường nghĩ đến đây là một con vật rất là đáng sợ. Là một loài động vật ăn thịt và chúng có thể tấn công cả con người gây nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên cá Sấu cũng có giá trị lớn trong nền kinh tế của nước nhà, thúc đẩy tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Những vật dụng cá nhân như: ví da, dây thắt lưng,.. được làm từ da cá Sấu thì chất lượng rất tốt. Để hiểu rỏ hơn về cá Sấu mời các bạn cùng BaoKhuyenNong tìm hiểu về Đặc điểm chung và mô hình nuôi cá Sấu tiền tỷ

Đặc điểm chung

Nguồn gốc phân loại

Cá sấu là các loài thuộc họ Crocodylidae (đôi khi được phân loại như là phân họ Crocodylinae). Thuật ngữ này cũng được sử dụng một cách lỏng lẻo hơn để chỉ tất cả các thành viên của bộ Crocodilia (bộ Cá sấu): bao gồm cá sấu đích thực (họ Crocodylidae), cá sấu mõm ngắn (chi Alligator, họ Alligatoridae) và cá sấu Caiman (các chi Caiman, Melanosuchus, Paleosuchus, cùng họ Alligatoridae) và cá sấu sông Hằng (họ Gavialidae).

Cá sấu là các loài bò sát lớn ưa thích môi trường nước, chúng sống trên một diện tích rộng của khu vực nhiệt đới của châu Phi, châu Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Đại Dương. Cá sấu có xu hướng sinh sống ở những vùng sông và hồ có nước chảy chậm, thức ăn của chúng khá đa dạng, chủ yếu là động vật có vú sống hay đã chết cũng như cá. Một số loài, chủ yếu là cá sấu cửa sông ở Úc và các đảo trên Thái Bình Dương, được biết là có khả năng bơi ra xa ngoài biển.

Hình thái cấu tạo bên ngoài

Cá Sấu là loài bò sát lớn, đa số các loài có chiều dài từ 2-5m, có con tới 6m (những con đực già). Cơ thể cá sấu có hình thuôn dài, đầu dẹt bằng, mõm dài; răng hình nón cong vào phía trong; đuôi rất khoẻ, dẹt bên hình bơi chèo; chân to ngắn, có màng bơi giữa các ngón, đầu các ngón chân có móng sừng giúp cho con vật không bị trơn trượt khi di chuyển trên cạn. Mắt nằm ở vị trí rất cao trên đỉnh mõm, lỗ mũi và lỗ tai có van chắn nước thuận tiện cho việc bơi lội dưới nước. Lưỡi dày bất động. Toàn thân được bao bọc bởi một lớp da dày. Dưới tấm da lưng có các bản da dày tạo thành vỏ giáp, phần trên lưng và đuôi có các vảy sừng nhô cao.

Nhiệt độ cơ thể cá Sấu

Cá sấu cũng giống như nhiều loài bò sát khác, nhiệt độ cơ thể phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, vì thế chúng được xếp vào nhóm động vật máu lạnh. Nhiệt độ môi trường thích hợp cho cá sấu từ 28-32°C. Khi muốn cho thân nhiệt tăng chúng thường nằm phơi mình dưới ánh nắng mặt trời, lúc đó da trên toàn thân hấp thụ năng lượng từ ánh nắng mặt trời, kết hợp với bên trong cơ thể, tim đập nhanh và mạnh để đưa lượng máu tiếp xúc với toàn bộ bề mặt da nhằm tăng khả năng hấp thu nhiệt cho cơ thể giúp cho quá trình tiêu hoá thức ăn được tốt hơn. Ngược lại, khi nhiệt độ môi trường tăng quá cao, cá sấu thường nằm ẩn mình dưới các bóng râm hoặc ngâm mình trong nước mát để giảm thân nhiệt (Grigg và Alclip 1976).

Cá sấu không có tuyến mồ hôi nên không thể chịu được môi trường có nhiệt độ quá nóng, vì thế trong khu chăn nuôi trên phần sân chơi nhất thiết phải trồng nhiều cây tạo bóng mát trong mùa nóng; dưới ao phải luôn luôn có đủ nước để tạo môi trường mát cho cá ngâm mình. Ngược lại trong thời gian mùa đông khi nhiệt độ môi trường dưới 20°C cá sấu thường ít hoạt động, kém ăn mồi vì ở mức nhiệt độ này các men tiêu hoá trong cơ thể không hoạt động. Nếu nhiệt độ môi trường ở mức dưới 15,6°C cá sấu sẽ bỏ ăn hoàn toàn, dưới 7,2°C chúng rơi vào tình trạng hôn mê, mất thăng bằng, không có khả năng di chuyển bình thường dẫn đến chết chìm trong nước. Vì thế khi nuôi cá sấu ở các địa phương có mùa đông lạnh nhất thiết phải bố trí chống rét cho chúng bằng cách che kín gió kết hợp các biện pháp tăng nhiệt hoặc bố trí hầm trú đông.

Cơ quan hô hấp và tuần hoàn

Cá sấu thở bàng phổi, cơ thể có hai lá phổi lớn cấu tạo khá hoàn chỉnh. Để thích nghi với điều kiện sống ở tầng mặt nước hai lỗ mũi nằm ở đỉnh hàm trên của mõm, đảm bảo cho cá sấu chỉ cần đưa đầu mũi lên khỏi mặt nước đã có thể hít thở không khí bình thường. Hai lỗ mũi thông với hốc mũi nằm sâu trong họng, cuối hốc mũi có một van chắn nước có thể tự nâng lên hoặc hạ xuống, hệ thống này tách rời xoang miệng với thanh quản giúp cho cá sấu có thể bắt mồi ngay dưới nước mà nước vẫn không vào xoang khí quản.

Tim cá sấu đã có vách ngăn đầy đủ như ở động vật có vú. Nhờ có vách ngăn này máu tĩnh mạch nửa phải và máu động mạch nửa trái tâm thất được tách rời nhau, không bị pha trộn. Những lúc bị rượt đuổi hoặc cần lẩn tránh kẻ thù cá sấu thường lặn sâu dưới đáy nước, lúc này chúng có khả năng ngừng thở khoảng từ 30 đến 50 phút, đó là do có sự hỗ trợ của hệ thống tuần hoàn đã sử dụng triệt để lượng ôxygen trong máu để duy trì sự sống. Nhưng nếu vì một lí do nào đó cá sấu bị mắc kẹt dưới nước quá lâu chúng cũng sẽ bị chết ngạt.

Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng

Thức ăn của cá sấu là động vật, chúng không có khả năng tiêu hoá những thức ăn có nguồn gốc từ thực vật. Hệ thống tiêu hoá có cấu tạo rất phù hợp với việc săn bắt mồi trong tự nhiên. Hàm khoẻ, có lực khép vào rất mạnh (400kg/cm2) thích hợp cho việc bắt và giữ mồi (Toby, 1996). Trên mồi hàm có từ 32-34 răng gắn sâu vào xương hàm và có dạng hình nón hơi bẻ cong vào phía trong. Khi bị gãy, răng mới sẽ được tái sinh sau thời gian ngắn (từ 7-10 ngày). Tuy hàm cá sấu không nhai được nhưng do có nhiều răng sắc nhọn giúp chúng có thể giữ, cắt con mồi thành những mẩu nhỏ và nuốt. Khi gặp những cỡ mồi lớn chúng có phản xạ lắc mạnh đầu hoặc xoắn cơ thể làm cho miếng mồi tự đứt để dễ nuốt. Đôi khi gặp phải những mồi quá lớn chúng đành phải cùng nhau chia sẻ. Dạ dày đã phân hoá có vách cơ dày, khoẻ, kết hợp với hệ thống men tiêu hoá tốt nên quá trình tiêu hoá diễn ra khá nhanh so với những loài bò sát khác (khoảng 72 giờ. Theo Pooley và Gans 1976).

Trong tự nhiên thức ăn của chúng gồm rất nhiều loại từ côn trùng, ếch nhái, chim, cá, thú nhỏ, thậm chí cả những con thú lớn. Chúng ăn cả những động vật sống và động vật đã chết. Khi nuôi nhốt người ta tận dụng tất cả những loại sản phẩm thừa làm thức ăn cho chúng như: tôm cá chết, gia cầm và các loại động vật thải loại của các trại chăn nuôi, phụ phẩm của các lò mổ, v.v. Khả năng ăn mồi của chúng rất lớn, từ 5-25% khối lượng cơ thể/tuần lễ. Ngược lại, trong những trường hợp do khan hiếm thức ăn hoặc trong mùa lạnh, cá sấu có khả năng nhịn đói từ 1-3 tháng. Trong thời gian này cá sấu ngừng sinh trưởng, nếu để tình trạng này kéo dài chúng sẽ bị gầy yếu và giảm khả năng vị giác đối với thức ăn.

Mức độ sinh trưởng của cá sấu chậm so với nhiều loài động vật khác và phụ thuộc rất nhiều vào thức ăn. Những cá sấu sống hoang dã trong tự nhiên do thường xuyên thiếu thức ăn nên tốc độ sinh trưởng rất chậm và thành thục sinh dục muộn. Khi nuôi nhốt trong các trang trại do được con người cung cấp đầy đủ thức ăn, chúng sinh trưởng nhanh và sớm có khả năng tham gia sinh sản (tăng trưởng trung bình đạt 15-20 cm, 8-12 kg/con/năm).

Các cơ quan cảm giác, khứu giác, thính giác

Qua mổ giải phẫu người ta đã xác định được não cá sấu tuy có kích thước nhỏ giống như não của nhiều loài bò sát khác, nhưng phát triển đầy đủ hơn vì thế chúng có nhiều khả năng nhận biết về mùi vị, âm thanh cũng như thính giác rất tốt.

Cuối cuống họng của cá sấu có 2 tuyến xạ hương cùng với 2 tuyến khác ở phía trong lỗ huyệt. Khi trưởng thành, đến mùa sinh sản các tuyến này thường hoạt động rất mạnh, nhờ nó mà cá đực và cá cái có thể nhận biết nhau dễ dàng để tìm bạn tình.

Hai lỗ tai nhỏ ở ngay sau hai bên mắt và được bảo vệ bằng một nắp che nước, khả năng nghe âm thanh của chúng rất tốt thông qua các biểu hiện như: nhận biết được hiệu lệnh khi cho ăn, biết được tiếng kêu tìm bạn tình của những con trưởng thành ở mùa sinh sản; cá sấu bố mẹ nghe được tiếng kêu của cá sấu con khi sắp nở để kịp thời đến hỗ trợ, hoặc tiếng kêu cứu của đồng loại khi bị kẻ thù tấn công v.v.

Hai mắt cá sấu nằm ở hai bên trán nên chúng có góc nhìn lớn cả về chiều thẳng và chiều ngang. Đặc biệt có mí mắt thứ ba trong suốt đảm bảo cho mắt không bị khô khi ở trên cạn và khi lặn sâu dưới nước vẫn có khả năng nhìn được để bắt mồi. Khả năng điều tiết của mắt cá sấu rất tốt, chúng nhìn rõ cả ban ngày lẫn ban đêm. Ban đêm khi chiếu đèn, mắt chúng có phản xạ hướng quang khi nhìn thấy màu đỏ nhạt.

Theo Bellais (1971) cho biết cá sấu còn có những cơ quan cảm giác khác như: ở lưỡi có những gai thịt vị giác và gai xúc giác ở hàm, dưới răng còn có những cơ quan cảm giác về áp suất nước.

Khả năng sinh sản

Cá sấu thuộc loài động vật sống lâu, vòng đời từ 60-70 năm. Tuổi thành thục lần đầu phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng và đặc điểm của mỗi loài, thường từ 6-11 năm và có khả năng sinh sản đến cuối đời. Ví dụ: Cá sấu cái sông Nile châu Phi (Crocodilus niloticus) sống hoang dã, đẻ lứa đầu ở tuổi 10-11 năm, cá sấu Caiman Nam Mỹ (Caiman crocodilus) sống hoang dã đẻ trứng lần đầu vào khoảng 9-10 tuổi (Jounen và Mc Nease,1975, 1982); cá sấu nước ngọt Cuba (Crocodilus rhombifer) nuôi nhốt tại Guamá, Matanzat (Cuba) đẻ trứng ở tuổi 6 năm, khi nhập khẩu về nuôi tại tỉnh Thái Nguyên (Việt Nam) chúng đẻ trứng ở 7 năm tuổi; cá sấu nước ngọt Việt Nam (Crocodilus siamensis) nuôi nhốt tại tỉnh Ninh Bình đẻ trứng ở tuổi 7 năm và khi nuôi tại tỉnh Cà Mau đẻ trứng ở tuổi 6 năm. Những loài cá sấu có kích thước nhỏ thường có tuổi thành thục sớm hơn loài có kích thước lớn. Cá sấu nuôi nhốt trong các trang trại do được cung cấp đầy đủ thức ăn thường sinh trưởng nhanh và có khả năng thành thục sớm hơn cá sấu sống hoang dã.

Chúng ta có thể nhận biết giới tính của cá sấu thông qua việc so sánh sự khác nhau của hình dạng bên ngoài ở những con cùng lứa tuổi như: Cá sấu cái đầu nhỏ, mõm ngắn, vảy thưa, tốc độ sinh trưởng chậm, trong khi đó cá đực thường đầu to, mõm dài, lớn nhanh hơn, nhưng nhìn chung phương pháp này không hoàn toàn chính xác. Để đảm bảo tính chắc chắn trong việc lập sổ theo dõi, khi lựa chọn cá bố (mẹ) đưa vào nuôi sinh sản, ta nên dùng tay kiểm tra giới tính từng con qua lỗ huyệt và tiến hành đánh dấu cá thể.

Đa số các loài cá sấu đẻ trứng một lần trong năm, mùa giao phối từ tháng 2 đến tháng 4 và đẻ trứng từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 7. Lứa đầu tiên đẻ từ 15 – 20 quả, từ lứa thứ hai trở đi tăng dần và ổn định ở mức từ 35 – 40 quả/con/năm. Trong tự nhiên cá sấu cái thường lựa chọn những nơi cao ráo gần mép nước, đất tơi xốp hoặc có nhiều lá cây khô để bới tổ đẻ trứng. Sau khi đẻ xong chúng tự vùi đất kín ổ trứng và nằm canh giữ đến khi trứng nở.

Thời gian ấp trứng kéo dài từ 11 đến 13 tuần (78 – 90 ngày). Nhiệt độ thích hợp đối với quá trình ấp từ 31°C đến 32°C. Trong tự nhiên, suốt thời gian ấp trứng cá sấu mẹ không đi kiếm mồi mà nằm ngay bên cạnh để canh giữ. Đến thời kì sắp nở khi nghe tiếng kêu của cá sấu con, cá mẹ sẽ bới đất hỗ trợ, mang cá sấu con đến nơi có nguồn nước.

Cá sấu mẹ có bản năng chăm sóc đàn cá sấu con trong vài tuần lễ đầu, sau đó những cá sấu con tự tách khỏi đàn để sống cuộc đời tự lập.

Kỹ năng tấn công và săn mồi

Cá sấu rất nhanh nhẹn khi khoảng cách ngắn, thậm chí ngoài môi trường nước. Chúng có quai hàm cực khỏe và bộ răng sắc nhọn để xé thịt, nhưng chúng không thể há miệng nếu nó bị khép chặt, vì thế có một số câu chuyện về việc người sống sót khỏi những con cá sấu sông Nin mõm dài bằng cách khép chặt quai hàm của chúng. Tất cả những con cá sấu lớn cũng có vuốt sắc và khỏe. Cá sấu là những kẻ đi săn kiểu mai phục, chúng chờ đợi cho cá hay động vật sống trên đất liền đến gần, sau đó tấn công chớp nhoáng.

Sau khi dùng cú đớp trời giáng của mình, con cá sấu kéo nạn nhận xuống con sông để nhấn chìm tới ngạt thở. Sau đó, để xé mồi, nó ngoạm chặt miếng thịt rồi xoay người nhiều vòng để dứt thịt ra. Thoạt nhiên, bạn có thể cho rằng điều này thật khó khăn vì không kiếm được điểm tựa, nhưng những con cá sấu thì không phải lo điều đó: ngay khi đánh hơi được mùi máu, năm sáu chú cá sấu cùng bơi đến tỏ ý muốn chia sẻ bữa ăn, và thường thì con mồi bị xé ra thành hàng trăm mảnh nhỏ bởi những bộ hàm to khỏe và cú xoay người mãnh liệt.

Giá trị kinh tế

Trên thế giới da cá sấu là một mặt hàng rất có giá trị dùng để sản xuất các vật dụng: xắc tay, ví bỏ túi, thắt lưng, giày dép, va li… dành cho giới lắm tiền. Đặc biệt lớp da bụng là phần giá trị nhất. Do đó cá sấu trong hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng vì sự săn lùng của con người. Riêng cá sấu hoa cà Crocodine porosus ở nước ta đang trở nên rất hiếm. Vì vậy nuôi cá sấu, ngoài mục đích bảo tồn loài động vật hoang dã quí hiếm còn là nguồn lợi kinh tế; đặc biệt thích hợp vùng ven biển do lượng thức ăn (cá) có nhiều, giá rẻ.

Tuy nhiên đầu tư nuôi cá sấu, ban đầu đòi hỏi khá tốn kém. Giá mua 115 con giống là 178 triệu, chi phí xây dựng chuồng trại hơn 30 triệu, tổng cộng ông Mười Chơi đã bỏ vốn ra 208 triệu đồng chưa tính chi phí thức ăn. Theo anh Tám, có nhiều chủ trại cá sấu ở TP. HCM đến mua lựa những con từ 2 mét trở lên với giá 10 triệu đồng/con nhưng gia đình không bán. Ông Mười dự kiến khi cá sấu trưởng thành (4 – 5 năm tuổi) bắt cặp giao phối sẽ chuyển sang khu chuồng trại kế bên (diện tích khoảng 200 m2) để nuôi sinh sản. Theo chúng tôi được biết hiện nay Nhà nước chưa có văn bản qui định cho phép xuất khẩu da cá sấu. “Đầu ra” của chăn nuôi cá sấu hiện nay chỉ là bán con giống trong nước.

Hiện trạng nuôi cá Sấu nước ngọt ở Việt Nam

Theo thống kê từ Cục Kiểm lâm, hiện nay nước ta có 75 trại và hộ gia đình nuôi cá sấu nước ngọt sinh sản có đăng ký với cơ quan kiểm lâm địa phương. Nhưng hầu hết các trại và hộ gia đình nuôi ở quy mô nhỏ, từ vài con đến vài chục con, một số rất ít nuôi với số lượng trên ngàn con. Mới đây, có nguồn tin cá sấu Việt Nam sắp được phép xuất khẩu, người dân liền đổ xô nhau đi mua cá sấu với giá rất đắt từ 700.000 – 800.000đ/con mới nở mà hoàn toàn không đòi hỏi người bán cung cấp giấy tờ để chứng minh nguồn gốc. Động thái này lại một lần nữa tiếp tay tạo ra một thị trường trôi nổi trong nước và vẽ nên một bức tranh lộn xộn về phong trào nuôi cá sấu nước ngọt ở nước ta manh mún, thiếu thông tin thị trường và hoàn toàn phụ thuộc vào các thương lái mua gom xuất lậu bằng con đường tiểu ngạch sang Trung Quốc. Con đường xuất khẩu bấp bênh này không phải là đầu ra hứa hẹn cho ngành xuất khẩu cá sấu Việt Nam.

Cá sấu nước ngọt (có tên khoa học là Crocodylus siamensis) đã được đưa vào nhóm IB Nghị định 48/2002/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22 tháng 4 năm 2002 và phụ lục 1 của Công ước Cites (công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp) mà Việt Nam là thành viên chính thức. Cả hai văn bản này đều quy định cấm đánh bắt từ tự nhiên cá sấu nước ngọt vì mục đích sử dụng hoặc xuất khẩu. Trường hợp muốn khai thác để gây nuôi sinh sản phải được phép của Thủ tướng Chính phủ (do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất). Theo các quy định này, việc xuất khẩu cá sấu nước ngọt chỉ được thực hiện khi đáp ứng các yêu cầu sau:

Có trại nuôi sinh sản được đăng ký với chi cục kiểm lâm địa phương.

Có sản phẩm từ F2 trở lên (thế hệ F1 là con của cặp bố mẹ được đánh bắt từ tự nhiên (F0), nuôi trong trại nuôi có kiểm soát phối giống sinh ra. Thế hệ F2 là con của cặp bố mẹ F1, giao phối sinh ra trong trại nuôi có kiểm soát)

Trại nuôi có đăng ký với Ban thư ký Công ước Cites, do cơ quan thẩm quyền quản lý Cites – Việt Nam đề xuất theo đúng quy định của Công ước Cites.

Có quota xuất khẩu được Ban thư ký Công ước Cites phê chuẩn.

 Chủ trại phải có trách nhiệm ghi chép, lập hồ sơ theo 15 tiêu chí của Cites.

Hiện nay, tại Việt Nam, cơ quan thẩm quyền quản lý Cites Việt Nam đã xây dựng đề xuất đăng ký 5 trại nuôi cá sấu nước ngọt xuất khẩu trình lên Ban thư ký Công ước Cites và đang chờ quota xuất khẩu. 5 trại đó là: 1 ở tỉnh An Giang, 4 ở TPHCM gồm: Công ty Cá sấu Hoa Cà (Q12); Công ty Du lịch Suối Tiên (Q9); cơ sở nuôi cá sấu Tồn Phát (Củ Chi), Công ty Lâm nghiệp Sài Gòn (Thủ Đức).

Như vậy, để người dân tham gia nuôi cá sấu làm giàu, giải pháp duy nhất hiện nay là xây dựng tập trung các trại nuôi có đủ điều kiện như Công ước Cites quy định. Phát triển theo hướng trại vệ sinh có nghĩa là các trại nuôi sẽ cung cấp con giống cho các hộ gia đình nuôi gia công và sẽ tiến hành mua lại của các hộ với giá thỏa thuận giữa hai bên theo hợp đồng. Làm ăn theo mô hình trên sẽ tạo được việc làm cho dân, đảm bảo được nguồn thu bền vững, tránh được rủi ro cho đầu ra. Hơn nữa Việt Nam có khả năng phát triển công nghệ nhuộm da, thuộc da, sản xuất thành phần trọn vẹn, xóa bỏ việc xuất khẩu da muối và thịt đông lạnh, để cạnh tranh với các nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillippines và Campuchia.

Mô hình nuôi cá Sấu

Nuôi cá sấu hiện nay còn là một nghề khá mới mẻ đối với các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long, vì vậy những hiểu biết về cá sấu vẫn còn rất hạn chế. Việc chăn nuôi là do tự phát và việc quản lý, bảo vệ, phát triển vẫn còn ngoài phạm vi chức năng của các ngành Nhà nước; các hộ chăn nuôi chủ yếu là học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

Ở nước ta hiện có 3 loài cá sấu được nuôi là cá sấu nước lợ, cá sấu nước ngọt, cá sấu Cuba. Cá sấu có nhiều loại nhưng đều có những đặc điểm sinh học khá giống nhau. Một quy trình nuôi cá sấu khép kín được chia làm 3 khâu chính: nuôi cá sấu thương phẩm 1 – 3 tuổi; nuôi cá sấu sinh sản và thu ấp trứng cá sấu; nuôi cá sấu con dưới 1 tuổi. Quy trình nuôi đầy đủ này chỉ phù hợp với những trang trại lớn, có cơ sở vật chất đầy đủ, kỹ thuật cao. Với những hộ chăn nuôi gia đình quy mô nhỏ thì việc nuôi cá sấu thương phẩm là phổ biến hơn.

Xây dựng chuồng trại

Cần chọn nơi có nhiều ánh nắng mặt trời, kín gió. Một chuồng cỡ trung bình kích thước 30 x 30m có thể nuôi hơn 800 con cá sấu thương phẩm.

Rào chắn: Không cần phải làm rào chắn quá cao, nhưng cá sấu có thể tẩu thoát bằng cách dũi đất nhất là khi đất quá ẩm, vì vậy nên chôn hàng rào ngập trong đất ít nhất 50cm.

Có thể dùng gạch chỉ, gạch patanh để xây móng chìm trong đất và xây thành tường cao lên cách mặt đất 30cm. Phía trên hàng tường này buộc gỗ hoặc lưới kim loại để rào kín. Tường rào xây cao khoảng 1,4m có thể nuôi nhốt những con cá sấu dài 2m an toàn. Chuồng nuôi nhất thiết phải có nước cho cá sấu đầm mình, vì vậy phải có ao hoặc bể xây.

Mô hình một ao nuôi cá sấu có đáy đất, bờ được xếp hoặc kè đá và xi măng, có dòng nước tự chảy vào – ra nhưng vẫn giữ được mức nước cố định… được coi là một mô hình phù hợp nhất đối với các chuồng nuôi cá sấu thương phẩm.

Mật độ nuôi

Cá sấu được nuôi theo từng lứa tuổi, ứng với mỗi lứa tuổi cần có mật độ nuôi thích hợp. Khi cá sấu nuôi ở lứa tuổi 1 – 3 rất cần có khoảng trống để vận động, mật độ nuôi phải thưa, từ 0,6 – 1con/m2 ở điều kiện bình thường. Nếu có điều kiện cho ăn tốt, giữ được vệ sinh chuồng trại và cá sấu được phân loại để nuôi riêng theo cùng một kích thước thì có thể nuôi với mật độ dày hơn (3con/m2).

Cho ăn và chăm sóc

Có thể cho ăn tất cả thức ăn có nguồn gốc động vật. Tốc độ lớn của chúng phụ thuộc rất nhiều vào nguồn đạm động vật cho chúng ăn. Những loại thức ăn bán sẵn dành cho chó, cá… (trong đó dùng đạm có nguồn gốc thực vật) rất ít tác dụng với cá sấu và thường rất đắt.

Cá sấu không chịu ăn loại thức ăn có phối trộn nhiều thành phần đã sấy khô hoặc ướp muối. Người ta thường cho cá sấu ăn những loại thức ăn có nguồn gốc động vật như lòng lợn, lòng bò, lòng gà, vịt… tốt nhất là cá đồng và cá biển, chuột.

Phải cho cá ăn thức ăn tươi, cắt thành các mảnh nhỏ để cá sấu dễ nuốt và không để ruồi nhặng bâu. Khoảng 2 ngày mới cho cá sấu ăn 1 lần. Lượng thức ăn hàng ngày xấp xỉ 1/70 trọng lượng thân và có thể dồn lại mỗi tuần cho ăn 3 lần.

Nếu nuôi ở qui mô nhỏ, khi cho cá sấu ăn người ta đặt thức ăn lên các tấm ván hoặc các miếng tôn để dễ dàng quét dọn, di chuyển.

Tốc độ lớn: Cá sấu đực thường lớn nhanh hơn cá sấu cái 11%

* Lưu ý: Khi nuôi cá sấu thương phẩm chú ý nên có một chuồng cách ly để nuôi riêng những con yếu, dùng nguồn nước riêng, máng ăn giữ sạch và có chế độ chăm sóc đặc biệt. Ngoài ra nên lập một khu riêng có nhiều ngăn chuồng nhỏ để nhốt giữ cá sấu trước khi thịt.

Mô Hình Nuôi Gà Đá Chuẩn Giúp Kiếm Được Tiền Tỷ Mỗi Năm

Tại sao nuôi gà đá mang lại lợi nhuận kinh tế vượt trội?

Từ lâu ở nước ta đã xuất hiện thú vui chọi gà. Cho đến nay nó ngày càng phát triể mạnh mẽ. Chi phí của gà chọi vô cùng lớn. Do đó mà việc nuôi gà đá với mô hình bài bản đã được nhiều người lựa chọn để ổn định cuộc sống và làm giàu.

Mỗi chú chiến kê khỏe mạnh đá tốt có mức giá từ khoảng vài triệu cho tới vài chục triệu. Con nào càng mạnh mẽ thì giá càng cao. Chính vì thế mô hình chăn nuôi trang trại gà chọi đã mang tới lợi ích và thu nhập vượt trội.

Cách xây dựng mô hình chăn nuôi gà chọi hiệu quả

Chọn giống

Đầu tiên là lựa chọn giống gà. Muốn có được giống gà tốt, bạn có thể tìm nơi nhân giống đảm bảo để mua. Hoặc bạn cũng có thể tự đúc gà chọi và tạo giống cho riêng mình.

Trong đó việc tự đúc giống được khuyến khích hơn cả. Khi đúc cần lưu tâm tới việc chọn giống mái. Bởi gà con sinh ra giống mẹ là nhiều. Khi có giống tốt thì bạn sẽ đúc ra được những con gà chất lượng.

Xây chuồng trại

Chuồng nuôi cần đảm bảo sạch sẽ và thoáng mát, thích hợp để đón tiếp các chiến binh. Bạn có thể xây chuồng nuôi gà đá bằng bê tông, phân ô riêng biệt hoặc là nuôi bằng lồng dành cho gà chọi.

Không nhốt chung cả đàn với nhau như thông thường bởi chúng rất hiếu chiến. Nhốt chung sẽ dễ dẫn tới các xung đột giữa gà.

Chế độ dinh dưỡng

Nuôi gà đá cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng đầy đủ theo từng giai đoạn phát triển của chúng. Ngoài thóc lúa rau xanh, cần bổ sung thêm thịt bò, giun, cá nhỏ.. với các chất phụ gia như tỏi, gừng và các loại vitamin, chất điện giải…

Ngoài ra cũng phải cho gà tập luyện các bài tập thể lực dẻo dai như vần đòn vần hơi, chạy bội hay quần sương, dầm cán…

Phòng bệnh cho gà

Phòng bệnh là điều vô cùng quan trọng mà người nuôi cần chú tâm, nhằm đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho gà. Cần vệ sinh chuồng trại thường xuyên, thực hiện quá trình tiêm vacxin đầy đủ theo định kỳ.

Khi gà có dấu hiệu đau ốm, cần cách ly và xử trí ngay, tránh chậm trễ gây lây lan ra cả đàn.

Gà Tây Lai Nặng: Mô Tả Giống Và Đặc Điểm, Chăn Nuôi

Để lấy thịt, nông dân ngày càng nuôi nhiều gà tây lai nặng. Loài chim tăng trọng nhanh chóng. Sản phẩm được đánh giá cao về hương vị và chất lượng cao. Nuôi gà thịt trong hộ gia đình sẽ là một lựa chọn hiệu quả về mặt kinh tế. Nhưng chăm sóc một con chim đòi hỏi sự chú ý, kiến ​​thức về các mô hình hành vi và tuân thủ các quy tắc chăm sóc và cho ăn.

Đặc điểm năng suất

Ngày nay, không chỉ các nhà chăn nuôi lớn, mà cả các chủ trang trại nhỏ cũng chọn gà tây lai để sản xuất thịt. Khối lượng gia cầm đạt từ 16 kilôgam trở lên. Tỷ lệ sản xuất trứng cao – lên đến 150 quả trong năm.

Con cái bắt đầu đẻ khi được 10 tháng tuổi. Trong một căn phòng ấm áp được trang bị tốt, quá trình này không dừng lại ngay cả trong mùa đông. Bản năng ấp trứng của chim cao. Chim thậm chí không ném trứng của người khác. Gà mái tốt nhất là gà tây 2 tuổi. Con cái sống sót, không quá một phần mười số con non bị chết.

Người tiêu dùng có nhu cầu về trứng chéo. Sản phẩm được phân biệt bởi hương vị kem phô mai tinh tế.

Chúng khác với các giống thịt như thế nào?

Khi làm việc với con lai, bạn nên hiểu loại này khác với giống thịt như thế nào. Con lai không thừa hưởng những phẩm chất của bố mẹ. Mỗi lần như vậy, các đặc điểm hoạt động sẽ giảm và các phản ứng hành vi sẽ thay đổi. Điều này là do các giống lai đang được lai tạo. Mục tiêu của các nhà chăn nuôi là cải thiện các chỉ số đó:

tăng cân;

tăng sản lượng trứng hàng năm;

khả năng chống lại bệnh tật.

Định nghĩa về giao phối cận huyết

Việc lai các loài chim nhà có quan hệ họ hàng gần của cùng một giống được gọi là giao phối cận huyết. Đồng thời, các nhà khoa học đặt ra nhiệm vụ củng cố những đặc tính tốt nhất của loài chim để tiếp tục nhân giống. Đầu tiên, bố mẹ có năng suất cao được chọn, sau đó chọn con non do kết quả của phép lai trước. Định kỳ, máu được làm mới bằng cách giao phối gà tây theo hướng khác hoặc đực từ một gia súc khác. Điều này được thực hiện để ngăn dòng không bị thoái hóa.

Tùy thuộc vào các quy tắc nuôi dưỡng, tạo điều kiện thoải mái để nuôi gà tây và loại bỏ các cá thể không đáp ứng các chỉ số đã thiết lập, giao phối cận huyết hình thành các đặc điểm di truyền cần thiết.

Đại diện nổi tiếng

Nông dân chăn nuôi nhiều loại gia cầm khác nhau.Mỗi loại hình có những đặc điểm riêng về nội dung và các chỉ số hoạt động.

Nhà sản xuất lớp

Một trong những kiểu lai nặng nề phổ biến của gà tây khi 4 tháng tuổi đã nặng 20 kg, con cái – khoảng 11. Thịt có đặc tính ngon, thành phần mỡ chỉ chiếm 8%. Tỷ lệ sản xuất trứng trung bình – 100 quả mỗi năm.

Cross bén rễ tốt ở các vùng khí hậu khác nhau, miễn là nó được giữ trong phòng ấm. Tòa nhà được giữ ở nhiệt độ khoảng 28 ° C. Đối với gà tây, nên trang bị chuồng nuôi gia cầm rộng rãi. Trong khu vực chật hẹp, những quả tạt nặng không hòa hợp với nhau và thường đánh nhau. Đối với 1 nam trưởng thành, không quá 8 nữ được lấy.

Ngực rộng màu trắng

Loại được các nhà lai tạo Mỹ lai tạo vào giữa thế kỷ trước. Gà tây lai nặng, tùy thuộc vào giới tính, nặng 25 kg (con đực) và 11 – con cái. Có đến 120 quả trứng được mang đến mỗi mùa. Gà mái ấp trứng được tổ chức trong một tổ chung. Con non được chăm sóc cho đến khi gà con trở nên độc lập.

Những cây thánh giá trắng ngực rộng có tính cách điềm đạm. Sự hung hãn chỉ được quan sát thấy trong mùa giao phối. Điều xảy ra là những con gà mái thậm chí còn chăm sóc con của những con chim nhà khác. Gà tây thích đi dạo ngoài trời. Giữ trong một không gian phòng giam kín không phù hợp với chúng.

Bộ chuyển đổi hỗn hợp

Giống gà tây này bén rễ tốt ở các trang trại nhỏ. Trọng lượng trung bình của những con đực trưởng thành là 20 kg, nhưng có những trường hợp khi những con chim này tăng lên 30. Chúng nhận được ít trứng – lên đến 50 miếng.

Gà tây được phân biệt bởi tính cách điềm tĩnh. Con đực hiếm khi gây gổ với đồng loại. Nhưng các loài chim khác không được chấp nhận trong sân. Tại địa điểm của các đại diện của thập tự giá nặng, bộ chuyển đổi được giữ riêng biệt với các loài chim khác.

Tiêu chí lựa chọn

Khi chọn gà tây lai nặng, các chỉ tiêu chính về năng suất, chất lượng sản phẩm thịt và chi phí nuôi chim được tính đến. Để trồng trọt, nông dân thu mua những con cái non hoặc trưởng thành để ấp. Tốt hơn là nên mua gà tây hậu bị khi được 1 tháng tuổi. Những con gà con như vậy đã ăn thức ăn bình thường và cứng cáp. Do đó, trẻ sơ sinh sẽ chịu vận chuyển tốt và nhanh chóng thích nghi ở một nơi xa lạ.

Họ cũng nhận được thông tin đầy đủ về cha mẹ và tiêm chủng.

Khi chọn trứng để nuôi tiếp, có nguy cơ thất thoát. Tỷ lệ sống sót không phải lúc nào cũng cao. Và không thể ước tính được con cái sẽ khỏe mạnh như thế nào. Trạng thái của người trẻ có thể nhìn thấy ngay lập tức. Một con chim ốm thậm chí có thể được nhận ra bởi vẻ ngoài của nó.

Nuôi gà tây sẽ là một công việc kinh doanh có lãi nếu bạn tuân thủ các hướng dẫn về nuôi. Những con lai nặng mang lại tỷ lệ thịt ngon, ăn kiêng. Điều quan trọng là phải tính đến khả năng thích ứng của chim với điều kiện thời tiết của khu vực nơi trang trại được đặt và các đặc điểm của loại được chọn.

Mô Hình Nuôi Gà Tây Làm Giàu. Đặc Điểm, Tập Tính Của Gà Tây Thuần Chủng

Gà tây được xem là giống gia cầm mới, hứa hẹn là mô hình chăn nuôi đầy tiềm cho bà con nông dân trên cả nước. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu đến bà con đặc điểm của gà tây thuần chủng, tiềm năng kinh tế của mô hình nuôi gà tây và những nông dân đã làm giàu thành công từ mô hình chăn nuôi này.

Gà tây là một loài chim kích thước lớn có nguồn gốc từ khu vực Bắc Mỹ và đã du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ 20. Tuy nhiên, trước đây gà tây chủ yếu được nuôi làm cảnh vì sự độc đáo và vẻ đẹp của bộ lông. Trong những năm gần đây, mô hình nuôi gà tây thương phẩm dần được mở rộng và phát triển bởi giá trị kinh tế rất cao mà nó mang lại.

Tại các nước Âu – Mỹ, gà tây là món ăn rất phổ biến vào những dịp lễ lớn như Giáng sinh, năm mới… Nhưng tại Việt Nam thì loại thịt bổ dưỡng này chưa thực sự phổ biến trong những năm 2010 trở về trước. Đây chính là lí do tạo ra đợt phát triển mạnh mẽ của mô hình nuôi gà tây thương phẩm khi loại thịt này được người dân chấp nhận và thậm chí rất thích thú.

II. Tiềm năng kinh tế của mô hình nuôi gà tây

Gà tây có kích thước lớn hơn nhiều so với các giống gà nội địa hiện tại. Gà tây trưởng thành có thể đạt đến khối lượng khoảng 8-10kg/con trống và 4-5kg/con mái. Bên cạnh đó là giá gà tây thịt cũng cao hơn so với các giống gà khác, trung bình nằm ở khoảng 130,000 – 150,000/kg. Thịt gà tây có hàm lượng protein rất cao và ít mỡ.

Gà tây là giống vật nuôi đang hội đủ các yếu tố để hình thành nên một mô hình chăn nuôi mới đầy tiềm năng, giúp bà con tăng gia sản xuất, cải thiện kinh tế:

Sức mua lớn dần: Người Việt đang được tiếp xúc ngày càng nhiều với thịt gà tây và rất ưa chuộng loại thịt mới lạ này.

Giá trị cao: Có thể thấy rằng giá mỗi kg thịt gà tây cao gấp rưỡi và thậm chí gấp đôi các giống gà nội địa. Bên cạnh đó là trọng lượng gà tây lớn hơn nhiều so với các giống gà khác.

Thị trường mới: Gà tây vẫn còn là loại thực phẩm mới đối với thị trường Việt Nam nên tiềm năng phát triển của loại gia cầm này vẫn còn rất lớn

III. Đặc điểm của gà tây thuần chủng

Gà tây có nguồn gốc từ giống gà tây hoang và được người bản địa tại Bắc Mỹ thuần hóa và nuôi lấy thịt. Sở dĩ có tên gọi là gà tây vì giống gà này du nhập vào Việt Nam thông qua các nước phương Tây (chủ yếu là Pháp). Gà tây thuần chủng có những đặc điểm nổi bật như sau:

1. Ngoại hình

Gà tây trống đạt tuổi trưởng thành khi 10 tháng tuổi và có thể nặng đến 12kg. Gà tây mái trưởng thành vào khoảng 8 tháng tuổi và chỉ nặng 4-5kg. Ngoại hình của gà tây trông rất oai vệ và bắt mắt nên ban đầu chủ yếu được nuôi làm cảnh.

Gà tây trống có bộ lông rất đẹp, màu chủ đạo là đen hoặc bông, lông đuôi có thể xòe rẻ quạt. Gà mái có bộ lông óng mượt nhưng ít khi xòe đuôi. Đầu gà tây trơn nhẵn, không có lông, màu đỏ hồng.

2. Tập tính

Gà tây là loài ăn tạp nên dễ nuôi hơn gà ta rất nhiều. Gà tây là loài ưa khô ráo, thoáng mát và chỉ sống ở môi trường sạch sẽ. Mặc dù gà tây dưới 2 tháng tuổi rất khó nuôi nhưng nếu qua giai đoạn này thì gà sẽ phát triển rất nhanh và có thể đạt trong lượng thương phẩm khi 6 tháng tuổi.

Từ 25 tuần tuổi thì gà tây bắt đầu vào thời kì sinh sản, tỉ lệ trống/mái thông thường là 1/5. Gà tây đẻ trứng và tự ấp, mỗi lứa đẻ khoảng 10 quả/lứa và 7-8 lứa/năm. Thời gian ấp là khoảng 30 ngày với tỉ lệ nở khoảng 70%.

IV. Những nông dân làm giàu từ nuôi gà tây

1. Anh Lê Hùng Hải – Đà Lạt

Trang trại gà tây của anh Hải hiện nay nằm trên đường Phạm Hồng Thái – thành phố Đà Lạt. Hơn 10 năm trước, anh là người đầu tiên mang giống gà tây đến vùng đất Tây Nguyên này để nuôi thương phẩm. Ban đầu ảnh chỉ nuôi vỏn vẹn 3 con trong vườn nhà. Tuy nhiên anh nhận thấy giống gà này rất thích hợp với khí hậu mát mẻ của thành phố ngàn hoa và lớn rất nhanh mà không bị bệnh tật.

Sau đó anh đã mạnh dạn mua thêm con giống và nhân đàn lên 100 con, rồi lên hàng trăm con. Không dừng lại ở đó, anh tự tìm hiểu cách chế biến món ăn từ gà tây để tự làm chiêu đãi người thân ăn thử và tiếp thị cho các nhà hàng trong tỉnh Lâm Đồng. Và bây giờ, đa số các nhà hàng cao cấp tại Đà Lạt đều có tên món gà tây trong thực đơn. Anh Hải đã thành triệu phú nhờ đàn gà tây của mình.

2. Ông Bùi Đăng Núi – Hà Nội

Ông Núi có lẽ là lão nông mạnh dạn đầu tư nhất phía Bắc với trang trại nuôi rất nhiều giống vật nuôi theo xu hướng kinh tế. Trong đó, đàn gà tây hàng ngàn con đang mang lại cho ông thu nhập khủng mỗi năm.

Năm 2011, ông Núi đầu tư nuôi gà tây thương phẩm sau khi trở về từ lớp khuyến nông. Ông mạnh dạn thuê đất và mua giống gà tây thuần chủng về nuôi thử nghiệm. Sau 6 năm, ông đang có trong tây gần 2000 cá thể gà thương phẩm và hơn 1000 gà giống. Đàn gà này mang lại cho ông thu nhập hơn nửa tỉ/năm. Đây quả là con số trong mơ của bất kì người nông dân nào.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đặc Điểm Chung Và Mô Hình Nuôi Cá Sấu Tiền Tỷ trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!