Xu Hướng 11/2022 # Chuối Móng Cái Quảng Ninh / 2023 # Top 20 View | Raffles-design.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Chuối Móng Cái Quảng Ninh / 2023 # Top 20 View

Bạn đang xem bài viết Chuối Móng Cái Quảng Ninh / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

– Danh Thủ Chuối Móng Cái Quảng Ninh. – 1 em gà xuất sắc ngày trước của vùng đất Mỏ. Nay mình được AE tạo điều kiện để viết về Tiểu Sử em nó cho AE trên Hội Quê Lúa đọc.

– Chuối Móng Cái được đúc ra tại Bắc Ninh nhưng sau đó thành danh tại Quảng Ninh.

– Lông 1 ăn 3 kỳ . Kỳ đầu là 1 độ cỏ thay kỳ vần độ 2 đá với gà A M Biên Phòng . A M cũng ng gốc Thái Bình chắc AE biết. Vào hồ 4 chạy kêu. Độ 3 đá gà xám kết của bác M Móng Cái 9 hồ đội bạn bế xong thay lông. – Độ 4 lông 2 gặp gà kết nhà Ph H Móng Cái 10 hồ đội bạn bế. – Độ 5 gặp Tía Vương do a M Sứt bế ra móng cái đá sang hồ 4 a Minh xin bế. – Độ 6 lại đá gà nhà Ph H Móng Cái cũng chỉ có hơn 4 hồ bục hết lưng chạy vọt cót luôn. – Sang độ 7 thì thua như các nhiều AE trên Hội đã biết. Độ 7 thì đổi tay nuôi từ 32-1 lên đến 33+ mà có 2 tuần sau khi ăn độ 6 không sơ chân lại đá liền chân và thua.

– Hiện nay em nó đang đúc mái ở Bắc Ninh. Nơi em nó được sinh ra. Hy vọng Chuối sẽ sản sinh ra những hậu duệ xuất sắc.

Nguồn: Nguyễn Tiến Đạt

Rate this post

Đánh giá bài viết này

Giá Lợn Giống Móng Cái. Kỹ Thuật Nuôi Lợn Móng Cái Cho Hiệu Quả Kinh Tế / 2023

Lợn Móng Cái là giống lợn nội thuần chủng có xuất xứ từ tỉnh Quảng Ninh và phân bố đầu tiên tại các địa phương vùng Đông Bắc nước ta. Do tính chất dễ thích nghi với nhiều điều kiện thời tiết, khả năng tăng trưởng, sinh sản và nuôi con rất tốt của lợn Móng Cái, nên giống lợn này dần dần được phát triển rộng rãi tại nhiều tỉnh thành trên cả nước và trở thành giống lợn nội được ưa chuộng nhất hiện nay.

Sơ lược về đặc điểm sinh học của lợn Móng Cái

Lợn Móng Cái đặc trưng bởi màu lông đen pha lẫn trắng hoặc hồng. Lợn có đầu to, cổ ngắn và to, lưng dài, rộng và hơi võng xuống. Bụng lợn tương đối gọn gàng nhưng về sau bụng càng sệ, lông thưa và nhỏ, da mỏng mịn, chân cao, mỏng xòe. Lợn cái hầu hết có 12 vú trở lên. Lợn Móng Cái là giống lợn nội có nhiều ưu điểm vượt trội trong sinh sản. Lợn đẻ rất sai (mỗi lứa trung bình 14 – 16 con), đẻ sớm (4 – 5 tháng tuổi đã động dục, 6 – 8 tháng là có thể phối giống), và đẻ rất dai (kéo dài tới 10 năm).

Có 2 nòi lợn Móng Cái chính: nòi xương to và xương nhỏ. Nòi xương to có thân dài, chân cao, xương ống to, mõm dài, đa số có 14 vú, đẻ trung bình 10 – 12 con/lứa. Nòi xương nhỏ thì ngược lại, thân ngắn, chân thấp, xương ống nhỏ, mõm ngắn, đa số có 12 vú và đẻ ít hơn, trung bình 8 – 9 con/lứa. Ngoài ra còn nòi xương nhỡ, là sản phẩm lai tạo giữa đực nòi xương to và nái nòi xương nhỏ, loại này hiện nay chiếm đa số trong các giống lợn Móng Cái.

Kỹ thuật chọn lợn cai sữa làm nái

Không chỉ riêng với mô hình nuôi lợn Móng Cái, mà đối với tất cả các giống lợn, bà con luôn luôn mua con giống ở các cơ sở lai giống uy tín. Vì đặc tính thường chăn nuôi để làm lợn cái nền lai với các lợn đực giống khác, chúng tôi sẽ giới thiệu bà con cách chọn lợn Móng Cái cai sữa về làm nái.

Về ngoại hình, bà con hãy chọn những con có thân hình cân đối, vai và mông nở nang, ngực rộng, lưng võng vừa phải, chân to khỏe và đi bằng móng, dáng đi nhanh nhẹn, da hồng hào, lông thưa đều và bóng mượt. Lợn cai sữa phải đạt trên 4.5kg.

Về bộ phân sinh dục và hệ thống vú, đây là tiêu chí quan trọng nhất để chọn lợn nái giống. Bà con lưu ý chọn những con lợn nái có âm hộ phát triển cân đối, dáng bình thường, không bị khuyết tật, hệ thống vú phát triển tốt, khoảng cách giữa các vú đều nhau, núm vú phát triển đều đặn, không có vú lép, vú bị khuyết tật.

Kỹ thuật chăm sóc và thức ăn

Lợn cái Móng Cái cai sữa có đầy đủ tiêu chuẩn chọn làm giống được chọn nuôi tách mẹ một cách cẩn thận để chọn cái hậu bị. Trong giai đoạn nuôi tách mẹ này, lợn con nên được chia thành các nhóm khác nhau dựa theo khối lượng để chăm sóc nuôi dưỡng tốt hơn.

Chuồng trại cho lợn sau cai sữa phải sạch sẽ, khô ráo, ấm về mùa đông và thoáng mát về mùa hè. Mật độ đàn trong chuồng đảm bảo lợn có không gian sinh hoạt thoải mái, không chật chội cắn xé lẫn nhau và phù hợp với giai đoạn phát triển của lợn: 0.4 – 0.5m 2/con với lợn có trọng lượng 10 – 35kg, 0.8m 2/con với lợn năng 35 – 100kg.

Công thức thức ăn cho lợn con sau cai sữa như sau: cho lợn ăn thức ăn công nghiệp 100% trong 14 ngày đầu sau cai sữa vì thức ăn công nghiệp đã được cân đối các thành phần dinh dưỡng theo nhu cầu của lợn con. Từ 61 – 90 ngày tiếp theo, bà con có thể sử dụng 100% thức ăn công nghiệp hoặc tự phối chế thức ăn. Thức ăn tự phối chế không cần cầu kỳ nhưng phải đảm bảo cung cấp đủ các dưỡng chất như tinh bột, đạm, vitamin và khoáng chất. Về tinh bột và đạm, bà con có thể cho lợn ăn cám gạo, cám ngô, bột sắc, bã bia, các loại khoai, bã đậu… kèm với khô dầu, đậu tương ép, khô lạc, đỗ tương, bột cá… Về vitamin và khoáng chất, bà con cho lợn ăn các loại rau củ, các loại bèo, thân chuối… trộn với bột xương, bột sò trong thức ăn.

Cách phòng bệnh

Cách phòng bệnh tốt nhất trong chăn nuôi lợn Móng Cái chính là giữ vệ sinh chuồng trại, thực hiện tiêu độc khử trùng, rắc vôi xung quanh chuồng, quét vôi lên tường bao quanh, xử lý chất thải chăn nuôi đúng quy trình, cách ly khi có lợn ốm bệnh, liên hệ với cán bộ thú y khi nghi ngờ có dịch…

Bà con cũng cần tuân thủ lịch tiêm phòng cho lợn. Khi nhập lợn về trại, bà con tiến hành tẩy giun sán cho lợn lần 1 và tẩy lần 2 lúc lợn 7 tháng tuổi. Bà con cần tiêm phòng cho lợn lúc 6 – 7 tháng tuổi. Các loại vacxin cần tiêm bao gồm vaxin bệnh tả, lepto, tụ dấu. Riêng với vacxin bệnh phó thương hàn, lợn con cần được tiêm trước khi cai sữa và tiêm nhắc lại sau đó.

Giá giống lợn ỉn Móng Cái

Giá của một con lợn giống Móng Cái tùy thuộc vào số cân nặng mà có giá khác nhau. Theo đó, lợn giống có cân nặng càng bé thì giá lại càng cao.

Nghề Truyền Thống Ở Quảng Ninh / 2023

Quảng Ninh là vùng đất có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời. Trải qua cuộc sống mưu sinh, chinh phục tự nhiên của các thế hệ cha ông đi trước đã bảo lưu được tới ngày nay nhiều nghề truyền thống, không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế – xã hội mà còn có ý nghĩa rất lớn về văn hoá và du lịch.

Kết quả thu được từ các cuộc khai quật tại nhiều di tích trên các đảo và ven bờ Vịnh Hạ Long, các nhà khảo cổ đã chứng minh được một trong những nghề lâu đời nhất, gắn liền với quá trình con người tới cư trú tại vùng đất Quảng Ninh ngày nay đó là nghề đánh bắt hải sản. Tại những di tích Văn hoá Hạ Long (khoảng 5000-3500 năm cách ngày nay) như Thoi Giếng, Vạn Ninh (Móng Cái), Hòn Ngò (Tiên Yên), Ngọc Vừng (Vân Đồn), Cột 8, Tuần Châu (TP Hạ Long)… các nhà khảo cổ đã tìm thấy trong tầng văn hoá các dụng cụ để đánh bắt cá như “chì lưới” bằng đá cuội, dọi se sợi để đan lưới và rất nhiều xương cá, vỏ các loài nhuyễn thể con người đã ăn, thải ra như ốc, hà, sò, ngao, điệp v.v..

Đan ngư cụ đã và đang là nghề cho thu nhập chính của nhân dân làng Hưng Học, xã Nam Hoà (Yên Hưng)

Sang đến giai đoạn đồ đồng – Văn minh Hùng Vương (khoảng 3500-2000 năm cách ngày nay), do kỹ thuật đúc đồng phát triển, các ngư dân ở Quảng Ninh khi ấy đã có thêm nhiều dụng cụ để đánh bắt hải sản và nghề này trở thành nghề chính, kế đến mới là săn bắn thú rừng và chăn nuôi, trồng trọt. Tại di tích Đầu Rằm, xã Hoàng Tân (Yên Hưng) nằm ngay bên bờ Vịnh Hạ Long, khai quật năm 1999, các nhà khảo cổ đã tìm thấy rất nhiều lưỡi câu bằng đồng với nhiều kích cỡ khác nhau, “chì lưới” bằng đất nung, các mũi nhọn, kim khâu vá lưới làm từ xương cá… Trải qua thời gian, nghề đánh bắt hải sản ở Quảng Ninh ngày nay đã phát triển với nhiều trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại. Tuy nhiên, cách thức đánh bắt thủ công cổ truyền vẫn được bảo lưu như: nghề câu mực, câu cá song, chã, thuyền chài, đánh cá đèn, gõ thuyền đuổi cá, đánh hà, cào thiếp v.v..

Một nghề truyền thống cũng có bề dày không kém, và gần như ra đời cùng với nghề đánh bắt hải sản ở Quảng Ninh là nghề làm gốm. Xuất phát từ nhu cầu “ăn chín, uống sôi”, các cư dân cổ Văn hoá Hạ Long đã chế tác ra nồi gốm và các đồ gia dụng khác. Chất liệu để làm gốm gồm có đất sét, trộn với vỏ nhuyễn thể và xoa thêm cát để cho thêm độ cứng. Tuy nhiên, ở buổi sơ khai khi đó, các đồ gốm này thường có nhiệt độ nung thấp nên độ bền không cao. Hoa văn trang trí trên đồ gốm phổ biến là văn khắc vạch hình sóng nước, văn hình vỏ sò, vạch chéo quả trám, văn đập thừng…

Tất cả ý tưởng cho đến dụng cụ trang trí hoa văn, người cổ Văn hoá Hạ Long đều lấy từ những sản vật có sẵn ở tự nhiên tại Vịnh Hạ Long. Đến giai đoạn đồ đồng, nghề chế tác gốm đã được nâng lên trình độ mới. Đồ gốm thời kỳ này đã phong phú hơn về chủng loại, đa dạng hơn về hoa văn trang trí, cứng chắc hơn nhờ được nung ở nhiệt độ cao. Ngoài nhu cầu sử dụng trong đời sống thường nhật, người Việt cổ ở Hoàng Tân còn đưa sản phẩm của mình đi trao đổi hàng hoá với cộng đồng cư dân khác, ở sâu trong đồng bằng Bắc Bộ và tới Thanh Hoá. Tới các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn… nghề làm gốm ở Quảng Ninh vẫn phát triển cho dù sản phẩm không được tinh xảo như các làng gốm cổ nổi tiếng như Chu Đậu (Hải Dương), Kim Lan (Hà Nội), Phù Lãng (Bắc Ninh) v.v. Kế thừa truyền thống của cha ông đi trước, nghề gốm ở Quảng Ninh ngày nay đã và đang được duy trì và phát triển mạnh ở một số địa phương của huyện Đông Triều.

Một số nghề truyền thống khác tuy mới ra đời khoảng 40-50 năm nay nhưng đang phát triển khá mạnh ở Quảng Ninh, đó là nghề mỹ nghệ than đá và nuôi cấy ngọc trai. Nghề mỹ nghệ than đá phát triển mạnh ở TP Hạ Long và TX Cẩm Phả. Qua bàn tay tài hoa của những người thợ, các sản phẩm chế tác từ than đá như những con trâu, con nai, gạt tàn thuốc lá, hòn Gà Chọi Vịnh Hạ Long… có giá trị thẩm mỹ và giá trị kinh tế rất lớn, được khách du lịch trong nước và quốc tế ưa thích bởi vẻ đẹp và sự độc đáo về chất liệu của nó. Trong khi đó thì do những điều kiện tự nhiên thuận lợi, Vân Đồn là nơi nghề nuôi cấy ngọc trai phát triển. Tại đây có bốn loài trai có giá trị gồm trai Mã Thị, trai Vỏ Dày, trai Cánh Dài và một loài nhập ngoại là trai Jamson. Đây là những loài trai ngọc rất quý, có giá trị xuất khẩu cao. Nghề nuôi cấy ngọc trai ở Vân Đồn đã thu hút, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động trong và ngoài tỉnh và hứa hẹn sẽ ngày càng phát triển…

Trong những năm qua, tỉnh đã và đang quan tâm, tạo điều kiện để các làng nghề truyền thống phát triển, vừa tạo thêm các mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao, vừa bảo tồn được bản sắc văn hoá vùng công nghiệp mỏ, đồng thời tạo thêm những địa chỉ tham quan du lịch hấp dẫn. Có dịp theo tàu ra Vịnh Bái Tử Long, đến thăm các ngư trường nuôi cấy ngọc trai ở Vân Đồn, dưới ánh nắng ban mai lấp loá của những giàn phao, lưới lồng nhấp nhô trải dài theo con sóng, hẳn du khách sẽ rất ngỡ ngàng, thích thú bởi cảnh vật nơi này.

Một Số Thông Tin Về Quảng Ninh / 2023

QUẢNG NINHI VỊ TRÍ ĐỊA LÍQuảng Ninh là một tỉnh biên giới thuộc vùng đông Bắc nước ta.Diện tích khoảng 5938 km vuông (không tính diện tích của các đảo – 1999)-Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc)-Phía Nam giáp tỉnh Hải Phòng.-Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ với đường bờ biển dài trên 200km.-Phía Tây giáp Lạng Sơn, Bắc Giang . Các hệ thống giao thông đường bộ phát triển nối liền Quảng Ninh và cửa khẩu Móng Cái với các tỉnh xung quanh , có hệ thống đường sông và đường biển , có hệ thống đường sắt.Địa hình : Quảng Ninh là một tỉnh vừa là miền núi, vừa là đồng bằng , vừa là duyên hải, vừa có đất liền, vừa có hàng nghìn đảo lớn nhỏ, hơn 80 % diện tích đất đai là đồi núi , vùng biển và đảo Quảng Ninh là vùng địa hình độc đáo, quan trọng về nhiều mặt.II HÀNH CHÍNH:Tỉnh lỵ là Thành Phố Hạ Long3 thị xã là Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí.Các huyện: Vân Đồn, Tiên Yên, Bình Liêu, Ba Chẽ, Hoành Bồ, Yên Hưng, Đông Triều, Cô Tô, Hải Hà, Đầm Hà. (Vân Đồn và Cô Tô là hai huyện đảo)III TÀI NGUYÊN:Do Quảng Ninh đa dạng về địa hình , khí hậu thổ nhưỡng nên hệ sinh thái phong phú các chủng loại:+Rừng: Rừng thứ sinh và rừng trồng là chủ yếu , vùng Đông Triều có rừng thông hai lá lấy nhựa và gỗ , Đảo Ba Mùn có rừng nguyên sinh , Quảng Ninh còn có diện tích rừng nước mặn đứng thứ hai cả nước sau khu vực Tây Nam Bộ.+Khoáng sản:Quảng Ninh là một tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản gồm than, quặng sắt , quặng ăn ti mon, titan….Mỏ than ở Quảng Ninh có trữ lượng 12 tỉ tấn chiếm 90% trữ lượng than cả nước (Đông Triều, Mạo Khê, Uông Bí, Hồng Gai, Cẩm Phả…) có nhiều mỏ lộ thiên.+Biển:Vùng biển Quảng Ninh rộng tới 6000km vuông, vịnh biển ở đây rất nông , không nơi nào quá sâu 20m, trên mặt vịnh có rất nhiều đảo, đây là vùng có nhiều đảo nhất Việt Nam. Đường bờ biển Quảng Ninh dài 250km, các bãi tắm Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng.Vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới đã được UNESSCO công nhận từ năm 1994.IV ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU THUỶ VĂN:+Khí hậu:Khí hậu Quảng Ninh mang đặc tính chung của khi hậu các tỉnh miền Bắc, đây là vùng nhiệt đới gió mùa , mùa hạ nóng , ẩm, mưa nhiều , mùa đông lạnh khô hanh. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21 độ C, có hiện tượng sương muối ở các vùng cao như Hoành Bồ, Ba Chẽ, Bình Liêu…Chịu ảnh hưởng lớn của mưa bão.+Thuỷ văn:Quảng Ninh có nhiều sông suối nhưng phần lớn đều ngắn, nhỏ , độ dốc lớn . Mùa đông suông cạn nước, mùa hạ nước lũ dâng mau. Các sông là: Bạch Đằng, Thác Cát, Diễn Vọng, Khe Hổ, Vũ Oai, Sông Trời, Sông Yên Lập. Hệ thống sông Tiên Yên, Móng Cái…Vùng biển Quảng Ninh là vịnh lớn và nông có nhiều đảo che chắn gió.V DÂN CƯ:Dân số khoảng 1.004.560 người (1999)Quảng Ninh có hơn 20 dân tộc anh em sinh sống gồm người Kinh, Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa…VI SƠ LƯỢC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂNThuở xưa, QUảng Ninh thuộc bộ Ninh Hải, một trong 15 bộ của nước Văn Lang.Năm 1969, Hồng Quảng và Hải Ninh sát nhập thành một tỉnh mới đặt tên là Quảng Ninh..VII VĂN HOÁ- DU LỊCH:Quảng Ninh là vùng đất chứng kiến nhiều chiến công của nhân dân ta chống giặc ngoại xâm. Lễ hội được tổ chức ở nhiều nơi để tưởng nhớ các sự kiện đó.Lễ hội Bạch Đằng:Bãi cọc bạch đằng: thuộc xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, là di tích lịch sử đã được bộ văn hoá thông tin cấp bằng công nhận. Là nơi Ngô Quyền với trận địa cọc gỗ đánh tan quân Nam Hán năm 938. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã đánh tan đạo quân Nguyên Mông của Ô Mã Nhi năm 1288. Nhân dân đã tổ chức lễ hội kỉ niệm chiến thắng Bạch Đằng vào ngày 8 tháng 4 âm lịch hàng năm.Hội đền Cửa Ông: Đền Cửa Ông là một trong những di tích nhà Trần nổi tiếng ở vùng Đông Bắc. Đền có 3 khu: đền Hạ, đền Trung và đền Thượng Hàng năm, hội đền Cửa Ông chính thức mở vào ngày mùng hai tháng giêng cho đến hết tháng ba (âm lịch).Hội chùa Long Tiên: mở hội vào ngày 24/3 (âm lịch).Hội chùa Yên Tử: Yên tử cách thị xã Uông Bí, Quảng Ninh 14 km về phía Tây Bắc . Theo thiền sử, Yên Tử là nơi ra đời và phát triển thiền phái Trúc Lâm. Quần thể di tích Yên Tử có 11 chùa, rất nhiều am, tháp. Lễ hội chùa Yên Tử được tổ chức từ 9/1 đến hết tháng 3.Yên tử là Di tích lịch sử văn hoá rất có giá trị của Việt Nam.Hội làng Trà Cổ: Đình Trà Cổ được xây dựng vào khoảng năm 1550, thờ 6 vị Thành Hoàng có công dựng ấp, lập làng ở giữa nơi biển trời bao la. Lễ hội được tổ chức từ 30/5 đến 6/6 âm lịch. Vịnh Hạ Long:Về danh thắng nổi tiếng nhất là vịnh Hạ Long thuộc vùng biển đông bắc nước ta ,vịnh Hạ Long như một bức tranh khổng lồ vô cùng sống động. Trên vùng biển của vịnh có hơn 1600 đảo lớn nhỏ, quần thể vịnh Hạ Long có Bãi Cháy, núi Bài Thơ ,các hang động caxtơ kì vĩ ( hang Đầu Gỗ, hang Sửng Sốt, hang Trinh Nữ, động Thiên Cung… rồi hòn Gà Chọi, hòn Lư Hương và địa danh nổi tiếng như cảng Vân ĐồnVịnh Hạ Long đã được hội đồng di sản thế giới chính thức công nhận là di sản thiên nhiên năm 1994Bãi Cháy: Dọc theo bờ biển vịnh Hạ Long là khu nghỉ mát thường quen gọi là Bãi Cháy. Đây là khu nghỉ mát quanh năm lộng gió biển, nhiệt độ trung bình năm trên 20 độ C. Bãi Cháy là một dải đồi thấp chạy thoai thoải về phía biển kéo dài hơn 2 km lấy hàng thông cổ thụ nằm xen kẽ .Qua con đường rải nhựa, sát bờ vịnh là dải cát trắng và hàng phi lao xanh mát. Những hàng quán nhỏ xinh ẩn mình dưới rặng cát phi lao. Núi Bài Thơ: Ngày trước núi có tên là Truyền Đăng, núi cao 106 m ,đứng bên cạnh thị xã Hòn Gai, một nửa chân núi gắn liền với đất liền, nửa ngâm trong nước biển. Năm 1468, vua Lê Thánh Tông cũng là nhà thơ nổi tiếng khi đi kinh lý vùng Đông Bắc, đã dừng chân trên vịnh Hạ Long ngay dưới chân núi nên thơ này. Xúc cảm trước thiên nhiên vĩ đại, nhà vua đã làm một bài thơ truyền lệnh và khắc vào vách núi. Từ đó có tên gọi núi Bài Thơ. An Đô Vương Trịnh Cương (1686-1730) cũng có một bài thơ ở núi này. Chùa Quỳnh Lâm:Thuộc xã Tràng An. Đây là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Việt Nam. Theo truyền thuyết, tại Quỳnh Lâm, nhà sư Không Lộ – đời Lý đã đúc pho tượng Di Lặc bằng đồng, cao sáu trượng (khoảng 20m) được coi là một trong “tứ đại khí” của nước ta thời ấy. Sau những biến cố thiên nhiên, giặc giã, năm 1629, chùa Quỳnh Lâm được tái tạo, trùng tu, với những điện Phật, nhà thiên hương, tiền đường, giải vũ, nhà hậu Phật, hành lang tả hữu, nhà tăng, nhà kho, tam quan, gác chuông… tổng cộng là 103 gian.VII KINH TẾQuảng Ninh là tỉnh được mệnh danh là “vùng mỏ” , “vùng than”.Du lịch cũng là một thế mạnh của Quảng Ninh.+Nông nghiệp: là tỉnh miền núi, đồng thời ven biển Quảng Ninh ít có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp do quỹ đất nông nghiệp còn hạn chế.Cây lúa được trồng nhiều nhất rồi đến ngô, khoai, sắn….Cây công nghiệp có lạc, chè , đậu tương.+Chăn nuôi: Trâu bò, lợn, gia cầm. Quảng Ninh có giống lợn ỉ Móng Cái nổi tiếng.+Ngư nghiệp: là tỉnh có đường bờ biển dài, ngư trường rộng, sản lượng cá biển đứng thứ 3 trong 11 tỉnh ven vịnh Bắc Bộ, đa dạng các loại hải sản, có nghề nuôi cá, nuôi tôm nuôi sò và các loại hải sản khác.+Công nghiệp: có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, khai thác mỏ than chiếm hơn 90% sản phẩm của cả nước.Có nhà máy đóng tàu Ba Lan thuộc cảng Cái Lân, cơ khí đóng tàu Hạ Long, các nhà máy chế biến bột mì và dầu thực vật Cái Lân, các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Chuối Móng Cái Quảng Ninh / 2023 trên website Raffles-design.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!